Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2018

       Ngày này năm xưa

Sự kiện trong nước
31-8-1952: Quân ta đột kích vị trí Phú Thọ của địch (ở gần Sài Gòn), phá huỷ một kho xǎng 3 triệu lít một kho dầu 2 triệu lít, một kho vũ khí gồm 100 quả bom loại 500 kg và 2 triệu viên đạn, tiêu diệt một đại đội lính Âu Phi.
31-8-1991: Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định "Tổ chức và sắp xếp mạng lưới các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân".
Sự kiện quốc tế
31-8-1990: Đại diện hai chính phủ Cộng hoà liên bang Đức và Cộng hoà dân chủ Đức ký kết "Hiệp ước thống nhất". Các bang của Cộng hoà dân chủ Đức sáp nhập vào Cộng hoà liên bang Đức. Thủ đô của nước thống nhất là Beclin.
                                       Chu Tuấn

Lợi ích của Đảng
 
Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta giành được chính quyền, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc, với mục đích duy nhất là giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc, giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, bóc lột, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc. Cũng từ đó, Đảng ta vừa là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, nên tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc của Đảng thống nhất với nhau, không thể tách rời.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bày tỏ công khai lợi ích của Đảng ta trước quốc dân đồng bào và bạn bè quốc tế, thế hiện sâu sắc giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng; vừa thể hiện một cách đúng đắn và nhuần nhuyễn tính giai cấp, tính tiền phong, trí tuệ, đạo đức và tính quần chúng trong công tác xây dựng Đảng. Đồng thời, đây còn là tư tưởng chỉ đạo để Đảng ta và mỗi cán bộ, đảng viên hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp, nhân dân lao động và của dân tộc, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
      Thấm nhuần lời Bác dạy, cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên, lên trước lợi ích cá nhân; ra sức phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa... 
         Càng trong khó khăn, gian khổ bản lĩnh chính trị, niềm tin và ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, đồng đội, gắn bó máu thịt với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ quân đội càng được khẳng định, phẩm chất cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng tỏa sáng, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
                                                                 Chu Tuấn



Thứ Năm, 30 tháng 8, 2018


Vạch rõ mưu đồ đê hèn của Trần Văn Giang

Đọc toàn bộ bài viết “Tiếng Việt Mới” và “Tiếng Việt Truyền Thống” của Trần Văn Giang, người đọc không khó nhận ra dụng ý nham hiểm của y. Với lối viết quy chụp vô căn cứ, dẫn chứng thiếu minh bạch, cụ thể về Tiếng Việt, Trần Văn Giang đã cố tình làm hoen ố sự trong sáng của Tiếng Việt, qua đó thực hiện mưu đồ đê hèn phản nước, hại dân.
Thứ nhất, với sự quy chụp vô căn cứ về cái gọi là “cộng sản đi đến đâu thì gây giết chóc, băng hoại, phá hủy tàn hại đến đó” cần phải khẳng định ngay rằng, Trần Văn Giang là kẻ phản động, chất chứa mưu đồ phản nước, hại dân. Bởi vì, chỉ có phản động hay kẻ bất bình thường về trí tuệ mới có thể vu khống, xuyên tạc một cách thô thiển đến vậy.
Nhân dân Việt Nam không bao giờ quên công ơn Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân tiến hành cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; rồi cũng dưới sự lãnh đạo của Đảng toàn dân tộc Việt Nam đã đánh thắng vẻ vang hai đế quốc, thực dân sừng sỏ là Mỹ và Pháp, đem lại độc lập, hòa bình, thống nhất, tự do, hạnh phúc cho Tổ quốc và nhân dân Việt Nam; vào thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước giành được những thành tựu lớn lao trong phát triển kinh tế – xã hội, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao, tuổi thọ trung bình của người dân ngày càng tăng (khoảng 74 tuổi); cơ sở hạ tầng về giao thông, văn hóa, giáo dục và y tế ngày càng được cải thiện cả về quy mô, số lượng và chất lượng; vị thế của Việt Nam không ngừng được khẳng định tầm quan trọng trong khu vực và trên trường quốc tế… Tất cả thành tựu trên là minh chứng rõ ràng nhất phản bác sự quy kết phản động của Trần Văn Giang về cái gọi là “cộng sản đi đến đâu thì gây giết chóc, băng hoại, phá hủy tàn hại đến đó”.
Thứ hai, thông qua sự xuyên tạc, sự quy chụp lấy được về Tiếng Việt, Trần Văn Giang muốn kích động người dân chống đối Đảng, Nhà nước Việt Nam và vu khống về mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc. Chúng ta không phủ nhận trong xã hội Việt Nam ngày nay đang xuất hiện những chữ Tiếng Việt lai căng, từ “lóng” đã và đang làm mất đi sự trong sáng vốn có của Tiếng Việt. Những chữ Tiếng Việt lai căng, từ “lóng” này là hệ quả của hội nhập về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Việt Nam với thế giới và thường được dùng làm ngôn ngữ nói ngoài xã hội. Chúng không đại diện cho Tiếng Việt chuẩn mực, được dùng phổ thông trong các văn bản chính thức và trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Song, với bản chất của kẻ phản động thực hiện mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, Trần Văn Giang đã cố tình xuyên tạc, quy chụp rằng, việc “Đổi thứ tự của chữ kép”, “Thay chữ Nôm”, “Thay chữ Hán-Việt”, “Ghép chữ Hán và chữ Nôm”, “Dùng trực tiếp chữ ngoại quốc”, “Dùng chữ ngoại ngữ phiên âm”, “Dùng chữ lóng/ chữ đường phố”… trong Tiếng Việt là “cải lùi Tiếng Việt nằm trong âm mưu phá hoại”.
Sự xuyên tạc, quy chụp Tiếng Việt của Trần Văn Giang, trước hết phải thấy được sự cố tình của y trong việc phớt lờ sự phong phú, đa dạng của ngôn ngữ. Như Tiếng Việt, với sự phong phú, đa dạng vốn có cả về âm, chữ và tiếng, nhiều khi việc đổi thứ tự của từ như: bảo đảm thành đảm bảo, trưởng lớp thành lớp trưởng, đơn giản thành giản đơn, từ chối thành chối từ… cũng có thể được chấp nhận miễn sao tuân thủ nguyên tắc nghĩa của từ không thay đổi. Trần Văn Giang, cũng cố tình bỏ qua ngữ cảnh của ngôn ngữ (từ của ngôn ngữ đó đứng ở đâu, được nói hay viết trong hoàn cảnh nào), ví như: đứng lớp (dạy học), đứng lớp chỉ hoạt động dạy riêng của thầy (cô) giáo trên lớp, còn dạy học bao gồm hai hoạt động dạy của thầy (cô) giáo và học của học sinh trong lớp. Dó đó, trong từng ngữ cảnh, nếu muốn nhấn mạnh đến hoạt động của thầy (cô) giáo thì có thể dùng từ đứng lớp, còn nếu muốn nhấn mạnh đến hoạt động của cả thầy và trò thì có thể dùng từ dạy học. Với từ mặt bằng (diện tích) cũng vậy, cũng phải căn cứ vào ngữ cảnh của câu nói hay viết, bởi từ mặt bằng có thể bao gồm cả diện tích và bề mặt, nhưng diện tích lại chỉ đơn thuần là số mét vuông hay ki lô mét vuông… không cho biết bề mặt là lồi hay lõm.
Trần Văn Giang là kẻ dốt Tiếng Việt nhưng lại học đòi lối chẻ chữ, y đã cố tình làm méo mó hay hiểu sai về Tiếng Việt, chẳng hạn từ quan hệ với làm tình, trong khi từ quan hệ có nhiều nghĩa khác nhau (quan hệ xã hội, quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế…); từ phi vụ với dịch vụ, trong khi từ phi vụ nói đến công việc làm ăn, còn dịch vụ là đảm bảo cho công việc làm ăn; từ Viện Da liễu, y cho rằng không có nghĩa gì hay là “Da cây Liễu”, trong khi Da Liễu là sự kết hợp của “bệnh da” và “bệnh hoa liễu”, gọi tắt là da liễu…
Thô thiển hơn nữa, Trần Văn Giang còn cố tình quy chụp về những thay đổi trong Tiếng Việt “là một chính sách diệt chủng có hệ thống được hỗ trợ, giật dây, thao túng và áp lực trực tiếp bởi Tàu cộng” và rồi y đã lộ nguyên hình của kẻ cơ hội, phản động “kêu gọi” người dân vào hùa với y xuyên tạc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhưng Trần Văn Giang đâu có biết, người dân Việt Nam luôn tỉnh táo, biết phân biệt rõ đúng sai, luôn sẵn sàng vạch trần mọi mưu đồ đê hèn của kẻ phản động, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, cùng nhau bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt./.
                                           Lê Hùng

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2018


Đấu tranh chống những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”.

Trong đó, Đảng ta chỉ rõ sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng là nguy hiểm khôn lường.
Trong khi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến hành quán triệt và thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) thì các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị tự xưng là “nhà hoạt động xã hội”, là đảng viên “trung thành”, “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, tự cho mình cái quyền tung lên các trang mạng xã hội, các web, blog... những quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng; họ phát tán những tài liệu, bài viết có nội dung tuyên truyền, nói xấu chế độ, với những luận điệu xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; phản đối chủ trương, đường lối của Đảng, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.
Họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là trở ngại duy nhất cho dân tộc và nền dân chủ chân chính của nhân dân”... Đáng chú ý là những “ý kiến”, “bình luận” về Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của những gương mặt quen thuộc trong Hội thảo “Bàn tròn của BBC”.
Có kẻ cho rằng: “Tất cả những chuyện về suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống,.., về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hay điều gì đó, thì chỉ nhằm “lợi ích nhóm”,...; và rằng Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) là biểu hiện của sự “bế tắc” giải pháp cho các vấn đề xã hội,... Có kẻ thì qua “Thư ngỏ” khẳng định rằng, một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến “độc tài, toàn trị”.
Như vậy, có thể khẳng định, tất cả những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội đều xuyên tạc, bóp méo sự thật về Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII); nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng ta với nhân dân.
Và mục tiêu cuối cùng của họ là thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, họ đòi “đa nguyên, đa đảng đối lập”; họ muốn Đảng Cộng sản Việt Nam thôi giữ vai trò lãnh đạo đối với giai cấp, dân tộc và xã hội Việt Nam, họ đòi “đổi mới thể chế chính trị” ở Việt Nam, đòi nhường quyền lãnh đạo dân tộc và xã hội cho một “lực lượng chính trị mới”...
Lịch sử đã minh chứng, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nhân dân ta, dân tộc ta hết lòng ủng hộ, một lòng tin theo Đảng.
Trong suốt tiến trình cách mạng đầy khó khăn, gian khổ, hàng vạn đảng viên cộng sản đã hy sinh trong ngục tù của thực dân, đế quốc, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam; kiên quyết một lòng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, trong khi các đảng phái của các giai cấp khác, các lực lượng chính trị khác đều tự tan rã, hoặc không được nhân dân ủng hộ, không thực hiện được mục tiêu chính trị mà họ đề ra.
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “nguy cơ “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ nạn quan liêu, tham những, lãng phí”, Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Ctqg, Hà Nội, 2016, tr. 18-19,... chưa được ngăn chặn, đẩy lùi.
Trong những căn bệnh suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là căn bệnh nguy hiểm hàng đầu, là căn nguyên gây ra nhiều căn bệnh khác. Thực tiễn cũng cho thấy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng gặp không ít khó khăn, trở ngại, có lúc do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, hành động chưa đúng quy luật khách quan, dẫn đến sai lầm, khuyết điểm.
Điều quan trọng là ở chỗ, mỗi khi phạm phải sai lầm, khuyết điểm, Đảng không bảo thủ, bàng quan; trái lại, đều kiên quyết sửa chữa, thể hiện tinh thần cầu thị, trách nhiệm chính trị trước nhân dân, dân tộc. Nhưng, trớ trêu là một số kẻ thù địch, cơ hội chính trị lại không thấy hoặc cố tình làm ngơ điều đó; hơn thế, họ còn thổi phồng những khuyết điểm, sai lầm đó và quy kết Đảng ta không đủ năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội trong điều kiện mới của đất nước.
           Chúng ta cần cảnh giác vạch trần và đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng. Đảng ta không né tránh và phủ nhận hiện nay, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) về: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra: “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và đề ra hệ thống các giải pháp cấp bách để tiếp tục xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình trong Đảng đã tạo sự chuyển biến bước đầu, có tác dụng cảnh báo, răn đe và phòng ngừa những hành vi tham nhũng, tiêu cực, góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
Vì vậy, không thể vin vào những khuyết điểm, hạn chế, yếu kém hiện nay để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; cũng không thể đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số cán bộ, đảng viên tham nhũng, thoái hóa, biến chất, quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong xã hội về cho Đảng. Làm như vậy là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, là phủ nhận lịch sử, phủ nhận lòng tin của nhân dân, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc.
Cho dù các thế lực thù địch, các “nhà hoạt động xã hội”, những người cơ hội chính trị hoặc những kẻ nhân danh “người yêu nước” có dùng âm mưu thủ đoạn thâm độc đến đâu cũng không thể che đậy được dã tâm của họ nhằm bôi nhọ, xuyên tạc, bóp méo sự thật về Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng.
Như đông đảo cán bộ, nhân dân ta xác định, mặc dù xã hội ta vẫn còn những vấn đề phải giải quyết, thậm chí có cả những vấn đề bức xúc, nhưng không có lực lượng chính trị nào có đủ lương tâm, trí tuệ và sức mạnh hơn Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện chế độ xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
                                 Chu Tuấn

Lời bác dạy


Chớ chủ quan khinh địch
Chiến tranh Triều Tiên kéo dài từ giữa năm 1950 đến giữa năm 1953, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953. Song, thương vong lớn tất cả các bên tham chiến; trong đó, có quân đội Mỹ. Việc đình chiến ở Triều Tiên góp phần cổ vũ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trên thế giới; trong đó, tinh thần của quân và dân ta hăng hái lên cao, có lợi cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đang ở giai đoạn quyết liệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời nhắc nhở quân và dân ta luôn giữ vững tinh thần quyết chiến, quyết thắng, không được chủ quan khinh địch.

Thực hiện lời Bác dạy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nêu cao ý chí quyết chiến, quyết thắng, vượt mọi gian khổ, hiểm nguy, chiến đấu kiên cường dũng cảm với tinh thân “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, thống nhất đất nước.
Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, được Đảng, Bác Hồ trực tiếp tổ chức, giáo dục và rèn luyện; kế thừa truyền thống tốt đẹp, hào hùng của dân tộc và tinh hoa của nhân loại về quân sự, chính trị, đặc biệt là tinh thần quyết chiến, quyết thắng - một nhân tố đặc trưng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. 
Ý chí quyết chiến, quyết thắng được thể hiện sâu sắc và triệt để trong các giai đoạn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, đã tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, góp phần vào thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, cán bộ, chiến sĩ quân đội tiếp tục giữ vững và phát huy ý chí quyết chiến, quyết thắng, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, nhận thức rõ đối tượng, đối tác, phối hợp chặt chẽ các hoạt động quốc phòng với an ninh và đối ngoại nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh...

                                      Chu Tuấn


Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2018


Đằng sau luận điệu xuyên tạc về
Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9

Trong khi cả nước đang náo nức hướng tới kỷ niệm 70 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 thì một số trang mạng của các thế lực thù địch, phản động đang cố gắng xuyên tạc, bóp méo tính chất và ý nghĩa của các sự kiện lịch sử này. Trong đó có những luận điệu hết sức hoang đường và thâm hiểm là: Thứ nhất, ngày độc lập cho Việt Nam là ngày 11-3-1945, khi Bảo Đại ký đạo dụ tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Giáp Thân (hay còn gọi là Hòa ước Patenôtre) ký với Pháp năm 1884. Thứ hai, không cần phải tiến hành Cách mạng Tháng Tám để giành độc lập cho đất nước vì lúc ấy đã có “chính thể” Bảo Đại-Trần Trọng Kim, chỉ còn chờ được các nước công nhận nền độc lập. Cũng do đó, Cách mạng Tháng Tám thực chất là Việt Minh giành chính quyền từ Bảo Đại-Trần Trọng Kim. Thứ ba, Cách mạng Tháng Tám thành công nhờ may mắn từ hoàn cảnh lịch sử. Những luận điệu trên sai trái ở những điểm nào?
1. Đầu tiên, có thể thấy sự kiện ngày 11-3-1945 khi Bảo Đại ký đạo dụ tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Giáp Thân ký với Pháp năm 1884 chỉ diễn ra sau sự kiện đêm 9-3-1945 “Nhật đảo chính Pháp” trên toàn cõi Đông Dương. 
Sau khi hất cẳng thực dân Pháp, vấn đề quan trọng nhất đối với quân Nhật là phải lập ra được một bộ máy cai trị tay sai bản xứ để duy trì trật tự và ổn định.
 Vì thế, "chính phủ" Trần Trọng Kim được ra đời dưới sự bảo hộ của phát xít Nhật. Phát xít Nhật đã chọn hai quân bài để phục vụ mục đích của mình bao gồm: Bảo Đại làm vua, còn Trần Trọng Kim là thủ tướng dưới một hình thái tổ chức chính quyền kiểu quân chủ lập hiến. Nhất cử nhất động của “chính phủ” Trần Trọng Kim đều phải xin phép và phải được sự đồng ý của Nhật. Danh sách nội các mà Trần Trọng Kim trình với Bảo Đại cũng phải được sự chấp thuận của Đại sứ Nhật Bản tại Huế là Masayuki Yokoyama.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945
Đạo dụ ngày 11-3-1945 của Bảo Đại thực chất là một văn bản dưới sức ép của phát xít Nhật nhằm chối bỏ sự đô hộ của thực dân Pháp đối với Việt Nam, đồng thời đặt Việt Nam nằm trong vòng kiềm tỏa của nước Nhật. Mang danh nghĩa là vua, nhưng không có thực quyền nên trong Tuyên ngôn thoái vị ngày 25-8-1945 trước Ngọ Môn, Bảo Đại đã thốt lên rằng: “Trong hai mươi năm ở ngôi, trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước bị trị. Từ nay trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập”.
Sau này, trong hồi ký “Một cơn gió bụi”, ông Trần Trọng Kim cũng cay đắng chỉ ra bản chất và thâm ý của phát xít Nhật: "Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Đông, nhưng về sau đã theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly và Mãn Châu, sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Đông đã bị người Âu châu chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu "đồng minh cộng nhục" và lấy danh nghĩa "giải phóng các dân tộc bị hà hiếp" nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình.”
2. Cũng chính bởi vậy, mặc dù từ ngày 17-4 đến 23-8-1945, tại Việt Nam có một chính thể do người Việt Nam đứng đầu nhưng chính thể ấy do phát xít Nhật lập ra, đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn hoàn toàn chưa có độc lập, tự do. Thực chất mọi quyền hành tại Việt Nam thời gian đó đều trong tay phát xít Nhật. Vì thế, Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng của toàn thể dân tộc ta, nhân dân ta giành chính quyền từ tay phát xít Nhật. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố rõ điều này: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Có thể khẳng định, chính thể Bảo Đại-Trần Trọng Kim chỉ là con bài trong tay Nhật. Vì thế, không thể nói rằng Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng mà Việt Minh giành chính quyền từ Bảo Đại-Trần Trọng Kim.
Luận điệu cho rằng, chính thể Bảo Đại-Trần Trọng Kim chỉ chờ được các nước công nhận thì Việt Nam sẽ được độc lập cũng hết sức nực cười. Thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng, quân đội Đồng minh bao gồm quân Tàu- Tưởng, liên quân Anh-Pháp khi vào giải giáp quân Nhật tại Việt Nam đều có mưu đồ muốn áp đặt sự thống trị của họ đối với đất nước ta. Do đó, từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, chỉ ngay khi vừa đổ bộ vào Sài Gòn, liên quân Anh- Pháp đã tấn công chính quyền và lực lượng vũ trang của ta để tái chiếm Nam Bộ. Còn từ vĩ tuyến 16 ra Bắc, quân Tàu-Tưởng có âm mưu lật đổ chính quyền của ta, đưa bọn phản động thân Tàu-Tưởng lên nắm quyền. 
Thực tế lịch sử đất nước ta đã cho thấy:  tất cả những người trông mong vào sự trợ giúp của ngoại bang để giành chính quyền, giành độc lập, tự do cho dân tộc đều bị thất bại. Hiểu rõ được điều ấy, trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” đã trở thành chân lý mang lại thành công cho các cuộc cách mạng của Việt Nam.
3. Một số kẻ cho rằng: “Cách mạng Tháng Tám thành công nhờ may mắn từ hoàn cảnh lịch sử”, rõ ràng là có dã tâm muốn hạ thấp giá trị cuộc cách mạng của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. 
  Điều mà ai cũng nhận thấy là hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8- 1945 đã tạo ra thời cơ vàng để dân tộc Việt Nam đứng lên làm một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. 
Lúc ấy, phát xít Nhật đã bại trận hoàn toàn, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945. Quân Nhật tại Việt Nam đã rệu rã về tinh thần, chờ quân Đồng minh vào giải giáp. Các lực lượng Đồng minh như quân Tàu-Tưởng, liên quân Anh-Pháp chưa vào đến nước ta. 
Nhưng nếu chỉ có thời điểm thuận lợi thì chưa thể tạo nên cuộc cách mạng thành công. Độc lập, tự do không phải là món quà bỗng dưng từ trên trời rơi xuống. Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khẳng định điều này: “Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do…”. 
Cách mạng Tháng Tám thành công vì đó là kết tinh của nghệ thuật chuẩn bị lực lượng, xác định đúng thời cơ và chớp thời cơ. Cách mạng Tháng Tám thành công, ít phải đổ máu là do các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã luôn trên thế chủ động chiến lược.
Để có một cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trên cả nước trong mùa thu Tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta 15 năm, qua 3 cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945 với những giai đoạn thử thách vô cùng khốc liệt, gian khổ. Đảng đã trưởng thành về tổ chức và lý luận, nhận được sự ủng hộ của nhân dân cả nước, tập hợp sức mạnh đoàn kết toàn dân trong một mặt trận dân tộc thống nhất gọi là Việt Minh. Ở tất cả các địa phương trên cả nước, Việt Minh đều có cán bộ, có cơ sở bám nắm nhân dân, vận động nhân dân. Nhờ đó, khi có kêu gọi Tổng khởi nghĩa, ngay lập tức hàng triệu người dân cả nước đều nhất tề đứng lên giành chính quyền.
Việc nhận định đúng thời cơ và chớp được thời cơ đòi hỏi những nhà lãnh đạo Cách mạng phải có một trí tuệ và tầm nhìn lớn. Từ giữa năm 1944, khi ở châu Âu, Hồng quân Liên Xô chuyển sang phản công thắng lợi trên nhiều mặt trận, không khí chuẩn bị khởi nghĩa sục sôi ở khắp nơi trên đất nước ta. Nhân dân vùng Cao-Bắc-Lạng sẵn sàng khởi nghĩa. Thế nhưng, cuối tháng 10-1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc trở về Hà Quảng, Cao Bằng chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao-Bắc-Lạng. Người nói: “Thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới”. Đồng thời, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân-tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam-để vừa tuyên truyền cách mạng, vừa sẵn sàng lực lượng quân sự hỗ trợ phong trào nổi dậy của nhân dân trong Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến. 
Hoãn khởi nghĩa lúc chưa đúng thời điểm, nhưng khi thấy thời cơ cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi, các nhà lãnh đạo cách mạng của ta thể hiện quyết tâm sắt đá lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập. Đó là vào cuối tháng 7-1945, Bác Hồ nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.
Trong bài viết của mình rút ra những bài học kinh nghiệm từ thành công của Cách mạng Tháng Tám, Giáo sư Văn Tạo, Nguyên viện trưởng Viện Sử học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) cho rằng: “Phương châm chiến lược kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nắm đúng thời cơ để nổi dậy đã góp phần quyết định vào việc giành được chính quyền ít phải đổ máu. Nếu cuộc khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, sẽ bị bọn phát-xít Nhật dập tắt; nếu nổ ra muộn hơn - khi quân Đồng minh, trong đó có Anh, Pháp và Tàu-Tưởng vào, thì cũng gặp khó khăn. Việc Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam nhân danh là người đứng về phía Đồng Minh chống phát-xít giành được quyền độc lập, đã nói lên tài vận dụng chiến lược của cách mạng Việt Nam.”
70 năm đã qua, thời gian càng lùi xa càng có sự chiêm nghiệm, càng có thêm nhiều thông tin thì càng thấy được ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đối với đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Nó đã đập tan xiềng xích của thực dân, đế quốc, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc là kỷ nguyên đấu tranh vì độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Không chỉ vậy, cuộc cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc ta đã trở thành một biểu tượng, một bài học kinh nghiệm quý giá, một sự khích lệ to lớn cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa. Ngày nay, đi tới bất cứ nơi đâu trên thế giới, người Việt Nam luôn được ngưỡng mộ vì là người dân của một đất nước anh hùng.
          Các luận điệu cố gắng bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại đã trở thành niềm tự hào của đất nước, của dân tộc như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước… đều là từ các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo thông tin, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái để hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, sự thật lịch sử đã phơi bày sự vô lương tâm của họ, thực tế cuộc sống ấm no, hạnh phúc ngày hôm nay đã cho thấy sự trơ tráo của họ. Dù trước mắt còn không ít thử thách nhưng đất nước ta, dân tộc ta đang tiến bước để trở thành một đất nước phát triển, hội nhập với thế giới.
Xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ, hạ thấp Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 của Việt Nam cũng có nghĩa là chà đạp lên khát vọng của dân tộc, chà đạp lên xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu lạc lõng đang bơi ngược dòng sự thật ấy chắc chắn sẽ bị nhấn chìm.
                                                                                 Chu Tuấn

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018


HỌC TẬP VÀ LÀM THEO PHONG CÁCH LÀM VIỆC
HỒ CHÍ MINH
                                     
          Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một chủ trương lớn, liên tục, lâu dài của Đảng ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.
                           
          Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, ngày 15 tháng 5 năm 2016, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Chỉ thị nêu rõ: Việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
          Trước Đại hội VII (1991). Đảng ta thường dùng khái niệm “tác phong” để nói về “tác phong Hồ Chủ Tịch”. Hai chữ “tác phong” có hàm nghĩa hẹp, mới chỉ nói lên được một mặt là “phong cách làm việc, phong cách công tác” của Hồ Chí Minh, tuy ai cũng hiểu rằng ngoài công tác, phong cách của mỗi người còn được biểu hiện ra ở nhiều lĩnh vực hoạt động khác nữa. Từ Đại hội VII, hai chữ “tác phong” được thay bằng khái niệm “phong cách” trong cụm từ “tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, thể hiện những đặc trưng đa dạng, phong phú khác trong toàn bộ cuộc sống và hoạt động của người. Nói phong cách Hồ Chí Minh là nói đến những đặc trưng giá trị, mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh, gắn liền với tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; thể hiện một nhân cách lớn, trí tuệ lỗi lạc, đạo đức trong sáng, nhân văn. Đó là “phong cách của một vĩ nhân, một chiến sĩ cộng sản lỗi lạc, một nhà văn hóa lớn”.
                        
          Phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động của Người, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, có giá trị khoa học, đạo đức và thẩm mỹ. Trong đó phong cách làm việc của Hồ Chí Minh thể hiện những nội dung nổi bật sau:
          Là lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, phong cách làm việc của Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết ở phong cách lãnh đạo với những nội dung nổi bật: Phong cách dân chủ, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Phong cách dân chủ Hồ Chí Minh được biểu hiện từ việc lớn cho đến việc nhỏ. Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định. Mọi vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học, kỹ thuật.... Người đều dựa vào đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, yêu cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước phải được cân nhắc, lựa chọn thận trọng, để sau khi ban hành, ít phải thay đổi, bổ sung.
          Phong cách lãnh đạo của Hồ Chí Minh là Lãnh tụ của cách mạng Việt Nam, phong cách làm việc của Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết là phong cách lãnh đạo với những đặc trưng nổi bật:
          Phong cách dân chủ, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Phong cách dân chủ của Hồ Chí Minh được biểu hiện từ việc lớn cho đến việc nhỏ. Từ soạn thảo “Tuyên ngôn độc lập” đến viết một bài báo...........người đều tham khảo ý kiến của Bộ Chính trị, hay những người xung quanh. Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định. Mọi vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học-kỹ thuật..... người đều dựa vào đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và NHà nước, yêu cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật Nhà nước phải được cân nhắc, lựa chọn thận trọng, để sau khia ban hành, ít phải thay đỏi bổ sung.
          Phong cách lãnh đạo của Hồ Chí Minh là biết động viên, khuyến khích “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, tức là phải làm cho cấp dưới không sợ nói sự thật và cấp trên không sợ nghe sự thật.
           Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về phong cách làm việc thật sự dân chủ, tôn trọng tập thể, không phân biệt chức vụ cao thấp. Theo Người, thực hành dân chủ, tôn trọng các quyết định của tập thể, biết lắng nghe ý kiến mọi người thì sẽ phát huy được tính tích cực, tự giác, sáng tạo và quy tụ được sự đồng tình ủng hộ của nhiều người, tạo nên sức mạnh to lớn để giải quyết thắng lợi mọi nhiệm vụ, phong cách làm việc dân chủ, tôn trọng tập thể của Hồ Chí Minh hoàn toàn đối lập với phong cách làm việc theo kiểu áp đặt mệnh lệnh hành chính, độc đoán chuyên quyền, chủ quan duy ý chí, dân chủ hình thức hoặc dân chủ cực đoan, tùy tiện, tự do vô chính phủ. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lối làm việc dân chủ, tôn trọng tập thể phải đi liền với sự quyết đoán và tinh thần dám chịu trách nhiệm cá nhân.
                          
          Tổ chức việc kiểm tra, kiểm soát cụ thể, thường xuyên. Theo Hồ Chí Minh, sau khi nghị quyết đã được ban hành, phải tổ chức tốt để nghị quyết đi vào cuộc sống: điều đó gắn liền với công việc kiểm tra, kiểm soát. Muốn tốt, “phải đi tận nơi, xem tận chỗ”. Sở dĩ sự thật còn bị bưng bít vì sự kiểm tra, kiểm soát của các ngành, các cấp, không nghiêm túc, chưa chặt chẽ, tệ nạn quan liêu còn “nồng”.
          Trong thực tiễn, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tác phong kiểm tra sâu sát. Theo tài liệu thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, chỉ tính trong vòng 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1955-1965), không quản tuổi cao, công việc bề bộn. Người đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội... từ miền núi đên hải đảo, để thăm, hỏi chiến sĩ và đồng bào, để xem xét tình hình, kiểm tra công việc. Tính ra mỗi năm, có hơn 70 lượt Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoaangr 6 lần lãnh tụ gặp gỡ quần chúng. Ngoài ra, hằng ngày Người đều đọc báo, đọc thư của nhân dân gửi lên, người có những ý kiến hay, cần tiếp thu, những việc gấp cần giải quyết, Người đều dùng bút đỏ đóng khung lại, chuyển tới các cơ quan có trách nhiệm, yêu cầu nghiên cứu và giải quyết.
Phong cách làm việc đổi mới.
Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc đủng đỉnh, chậm chạp, tự do, tùy tiện, đại khái, sự vụ, theo đường mòn, lười suy nghĩ, ngại đổi mới, thích phô trương, hoàng tráng về hình thức, nhưng nghèo nàn, sơ sài về nội dung.... Người nêu gương cho chúng ta về phong cách công tác mới: lấy lợi ích và hiệu quả thiết thực làm chuẩn mực cao nhất để đánh giá tác phong cán bộ và chất lượng công việc. Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh thể hiện:
          Phong cách làm việc khoa học, khách quan, trung thực. Hồ Chí Minh yêu cầu làm việc gì cũng phải điều tra, nghiên cứu, thu thập thông tin, số liệu, để nắm chắc thực chất tình hình. “Đảng có hiểu rõ tình hình, thì đặt chính sách mới đúng”. Phong cách làm việc khoa học, khách quan, trung thực của Hồ Chí Minh là không hề né tránh những sự việc tiêu cực, thường được đội danh là “nhạy cảm”, càng không cho phép lợi dụng hai chữ “nhạy cảm” để che chắn sai lầm, bưng bít sự thật, bênh che cho nhau. Người coi đó là không trong sạch về đạo đức, không minh bạch về chính trị và không trung thực về khoa học. Người viết; “...một Đảng mà giấu diếm khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”. Người đã nêu cao tấm gương trung thực, thẳng thắn, thực sự cầu thị. Trong cải cách ruộng đất, người gạt nước mắt nhận lỗi trước nhân dân.
          Hồ Chí Minh đòi hỏi làm việc gì cũng phải có chương trình, kế hoạch, từ lớn đế nhỏ, từ dài hạn đến ngắn hạn, từ tháng, tuần đến ngày, giờ nào việc nấy. Vì làm việc có kế hoạch, dù bận trăm công nghìn việc của Đảng và Nhà nước, Người lúc nào cũng ung dung, tự tại, vẫn có thời gian học tập, đọc sách, xem văn nghệ, đi xuống địa phương, đi thăm danh lam, thắng cảnh...Từ thực tế và kinh nghiệm của mình, Người dạy: trong việc đặt kế hoạch không nên tham lam, phải thiết thực, vừa sức, từ thấp đến cao, “chớ làm kế hoạch đẹp mặt, to tát, kể hàng triệu nhưng không thực hiện được”.
          Hồ Chí Minh rất không bằng lòng với thói quen chậm chạp, tùy tiện, không đúng giờ của nhiều cán bộ, coi đó là thái độ không tôn trọng thời giờ của những người khác. Người thường không để ai phải đợ mình, chủ động đến trước nếu có thể. Năm 1953, tại Việt Bắc, người vượt qua mưa gió để đến thăm lớp chỉnh huấn của anh chị em trí thức theo lịch hẹn. Người chủ động đến thăm đoàn cán bộ Hà Nội dịp Tết năm 1956, khi đoàn đang chuẩn bị lên Phủ Chỉ tịch chúc tết Người thì gặp mưa, lúng túng chưa xử lý được
                            
          Phong cách làm việc luôn đổi mới. Đó là một phong cách không cố chấp, bảo thủ, luôn đổi mới. Người nói: “Tư tưởng bảo thủ như sợi dây cột chân cột tay người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm”. Cuộc đời Người là một tấm gương truyệt vời về đổi mới, có sức động viên, khích lệ, gợi mở sự đổi mới,  sáng tạo cho mỗi chúng ta.
          Phong cách Hồ Chí Minh nói chung và phong cách làm việc của Hồ Chí Minh nói riêng là phong cách của một con người Việt Nam tiêu biểu, một lãnh tụ của Đảng và dân tộc ta. Đó là nét riêng, nét đặc sắc, có tính hệ thống, ổn định và phát triển của Hồ Chí Minh trong giải quyết các mối quan hệ; là một bộ phận quan trọng trong di sản vô giá mà Người để lại cho Đảng ta, cho dân tộc và Quân đội ta. Phong cách ấy tiếp tục soi sáng, định hướng cho việc tu dưỡng, rèn luyện phong cách làm việc của người quân nhân cách mạng trong thời đại ngày nay. Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong giai đoạn hiện nay./.
                                                                                               Lê Hùng


Phải dựa vào nhân dân, đoàn kết với nhân dân

Ngày 17 tháng 8 năm 1962, nói chuyện với Trường Thanh niên Lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:“Phải dựa vào nhân dân, vì đông đảo nhân dân rất nhiều tai mắt, cho nên bộ đội, công an không những phải đoàn kết nội bộ, lại phải đoàn kết với nhân dân, dựa vào nhân dân, giáo dục nhân dân cảnh giác thì địch không làm gì được”.
Đây là thời kỳ cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta ở thời kỳ vô cùng ác liệt, Đảng, Nhà nước đã động viên, khích lệ tinh thần xung kích, tình nguyện của các thế hệ thanh niên làm nên những thành tích vẻ vang trong xây dựng trường học kiểu mẫu, góp sức vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; trong đó, có sự ủng hộ, giúp đỡ rất lớn của nhân dân.
Tư tưởng về phát huy sức mạnh nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và giành nhiều công sức xây dựng. Bác luôn nhấn mạnh đến vai trò của nhân dân, coi nhân dân là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam, đúng như lời Người đã khẳng định: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Thực tiễn đã minh chứng, chỉ có đoàn kết chặt chẽ với nhân dân, dựa vào dân, được nhân dân tin yêu thì quân đội và công an mới có được những thuận lợi trong chiến đấu, công tác, lao động sản xuất và trong mọi sinh hoạt của cuộc sống. Cách xa dân, không gắn bó với nhân dân, không liên hệ mật thiết với nhân dân, không dựa vào dân thì bộ đội và công an không thể hoàn thành được nhiệm vụ; bởi theo Bác: “Có dân là có tất cả”.
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là hai lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, luôn đoàn kết, gắn bó, phối hợp và tạo điều kiện, giúp đỡ nhau hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, mỗi lực lượng đều nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt lời Bác Hồ dạy, luôn giữ vững mối quan hệ gắn bó máu thịt với nhân dân, tích cực giúp đỡ nhân dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ dân, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp xâv dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm mũi nhọn tấn công trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” kích động tư tưởng chống đối, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

                                                                                                   Chu Tuấn

Âm mưu xuyên tạc


Âm mưu xuyên tạc, phủ nhận Nghị quyết Trung ương 7 về xây dựng đội ngũ cán bộ của Phạm Trần
Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, từ ngày 7/5 đến ngày 12/5/2018, tại Thủ đô Hà Nội, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX họp Hội nghị lần thứ 7 để bàn bạc, quyết nghị các vấn đề về: xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; cải cách chính sách tiền lương; cải cách chính sách bảo hiểm xã hội. Đây, là những vấn đề rất quan trọng liên quan đến sự phát triển của đất nước cũng như đời sống của cán bộ, công chức và người lao động, thu hút sự quan tâm và sự đồng tình ủng hộ của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, bài viết của Phạm Trần “Hội nghị Trung ương 7 – Suy thoái, xuống cấp dài dài”, đăng trên blog Tiếng dân lại “phản ánh” không đúng với thực tế về cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng.
  Hội nghị lần thứ 7 BCHTW Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa XII
Từ việc trích dẫn nhận xét, đánh giá của Trung ương và nhận xét của cá nhân một số đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cũng như các bộ, ngành về hạn chế, khuyết điểm của cán bộ và công tác cán bộ, nhất là tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tuổi”, “chạy quy hoạch”, “chạy luân chuyển”, “chạy bằng cấp”, “chạy tội” của một bộ phận cán bộ, đảng viên… Phạm Trần đã đưa ra những nhận định, đánh giá chủ quan, phiến diện: “Cán bộ, viên chức đã không chỉ suy thoái phẩm chất và đạo đức mà còn tìm mọi cơ hội để bảo vệ quyền lợi cá nhân, gia đình và dòng họ nhiều hơn thời gian phục vụ người dân và đất nước”, “chạy” đời này qua đời khác, “chiến lược cán bộ” thi hành trong suốt 20 năm đã không thành công” và những mục tiêu về công tác cán bộ cho từng giai đoạn mà Nghị quyết Trung ương 7 nêu ra chỉ là “tham vọng” v.v…
Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay kém. Bởi vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ luôn được Đảng ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Bước vào thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta đã có nhiều quyết sách đúng đắn về cán bộ và công tác cán bộ, nhờ đó đội ngũ cán bộ các cấp đã có bước phát triển, trưởng thành về nhiều mặt nên chất lượng ngày càng được nâng cao. Tuyệt đại đa số đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng, có đạo đức cách mạng, có lối sống giản dị, gương mẫu, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ, trong đó có cả cán bộ cao cấp uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, thiếu gương mẫu, vướng vào tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân, lợi dụng sơ hở, cố ý làm trái, trục lợi, làm thất thoát tài sản của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng.
Trong bài viết, Phạm Trần cố tình chỉ tuyệt đối hóa, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm của cán bộ, công tác cán bộ, …để đưa ra những nhận định, đánh giá chủ quan với dụng xấu, nhằm xuyên tạc, phủ nhận Nghị quyết Trung ương 7 về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Qua đó, hạ uy tín của Đảng, gây sự hoài nghi, thiếu niềm tin của người dân vào đường lối, chủ trương công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ của Đảng, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước và xã hội. Đây chính là âm mưu “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta của Phạm Trần. Chúng ta phải hết sức cảnh giác, đấu tranh và bác bỏ luận điệu sai trái của Phạm Trần và đồng bọn./.
                                                                                  Chu Tuấn   

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2018

GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY


GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY “VĂN HÓA BỘ ĐỘI CỤ HỒ”


Nhà văn, nhà báo, nhà nhiếp ảnh người Mỹ Lady Borton mới đây khi sang Việt Nam đã nói: “Tôi đã đi nhiều nước trên thế giới, nhưng không ở đâu người dân lại yêu mến gọi lãnh tụ của mình là Bác, không có quân đội nào yêu mến gọi Tổng Tư lệnh bằng Anh (Anh Văn - Đại tướng Võ Nguyên Giáp) và cũng không nơi nào nhân dân yêu mến quân đội gọi là Bộ đội Cụ Hồ”. “Bộ đội Cụ Hồ” - một giá trị văn hóa độc đáo, tiêu biểu trong dòng chảy của nền văn hóa Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh.
Quân đội ta được Đảng, Bác Hồ sáng lập, giáo dục và rèn luyện, trải qua nhiều thế hệ, từ Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đến tên gọi hiện nay là Quân đội nhân dân Việt Nam đã vun đắp, tích lũy nên “Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ”. “Bộ đội Cụ Hồ” - một tên gọi bình dị nhưng vô cùng cao quý mà nhân dân đã dành cho quân đội ta, là hình tượng cao đẹp, tập trung những phẩm chất tốt đẹp nhất của cán bộ, chiến sĩ quân đội. Bộ đội Cụ Hồ là một danh hiệu nhưng không phải do Nhà nước phong tặng. Bộ đội Cụ Hồ là sự tiếp nối truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc. Dân tộc Việt Nam có một nền văn hóa mà cốt lõi là chủ nghĩa yêu nước, đó là sức mạnh nội tại mà hàng ngàn năm Bắc thuộc cũng không bị đồng hóa. Truyền thống Bộ đội Cụ Hồ là sự tiếp nối truyền thống quân sự, truyền thống đánh giặc giữ nước của ông cha ta trong điều kiện lịch sử mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập tự do: Là nghệ thuật đánh giặc lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, lấy đoản binh thắng trường trận.
“Bộ đội Cụ Hồ” là một thành công của Đảng ta trong việc xây dựng quân đội về chính trị, xây dựng con người trong lực lượng vũ trang. Con người đó trong kháng chiến sẵn sàng lấy thân mình lấp lỗ châu mai để đồng đội tiến lên tiêu diệt kẻ thù như Phan Đình Giót; rồi đến Nguyễn Viết Xuân bị thương nát đùi bên phải vẫn xông lên và hô “Nhằm thẳng quân thù, bắn!” - Lời hô đó đã trở thành bất tử. Hay như Anh hùng La Văn Cầu bị thương gãy nát cánh tay, nhờ đồng đội chặt đứt để khỏi vướng, dùng tay trái ôm bộc phá đánh mở đường, tạo thời cơ cho đơn vị đánh chiếm đồn địch… Và rồi, đến ngày hôm nay, nhiều cán bộ, chiến sĩ không kể hiểm nguy cứu người trong lũ dữ, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ chủ quyền biên giới hải đảo, như Thiếu tá Lê Văn Phượng, Thiếu úy Đinh Văn Nam… Những cựu chiến binh đã kinh qua hai cuộc chiến tranh dù mang trong mình nhiều thương tật, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, họ lại xông pha trên mặt trận phát triển kinh tế, góp phần xây dựng quê hương đất nước giàu đẹp, văn minh.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thì gần như những con người ưu tú nhất vào quân đội, chắc tay súng giành độc lập tự do của Tổ quốc. Để rồi chính họ đã tạo nên “Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ” có sức lôi cuốn và lan tỏa đặc biệt. Mỗi khi mang lên mình bộ quân phục, dù ở trong đơn vị hay ở nơi công cộng, họ đều thể hiện phẩm chất của người quân nhân cách mạng. Cũng vì thế mà hiện nay, rất nhiều gia đình gửi con em mình vào các lớp “học kỳ quân đội” để tiếp thu những giá trị của “Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ”.
Trong giai đoạn hiện nay, kẻ địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, trong đó chúng xem văn hóa là lĩnh vực quan trọng, coi trọng đẩy mạnh việc truyền bá lối sống suy đồi, đề cao vật chất, văn hóa hưởng thụ, tung hô “cái tôi cá nhân”. Hơn nữa, nền “văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” của chúng ta đang có sự tương tác rất mạnh mẽ cả về tích cực, tiêu cực với văn hóa bên ngoài. Trước đòi hỏi của nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, cũng như của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ không phải là việc riêng của tổ chức quân sự, càng không chỉ là trách nhiệm của mỗi quân nhân mà là của mỗi người dân yêu nước.
Để giải quyết vấn đề đó, trước hết mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội hiện nay cần nhận thức, hiểu sâu sắc những giá trị tinh hoa văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, đó là: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; gắn bó máu thịt với nhân dân; quan hệ gắn bó với đồng chí, đồng đội...
Trên cơ sở đó thường xuyên nâng cao trình độ tự ý thức về việc tự tu dưỡng, tích cực, tự giác học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực và hiệu quả các mặt công tác là một yêu cầu cơ bản; Phải rèn luyện ý chí phấn đấu bền bỉ, cầu tiến bộ, trọng danh dự cá nhân; Không bị “nhiễm” với những tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, văn hóa phẩm không lành mạnh trong đời sống xã hội hiện nay ảnh hưởng tiêu cực đến phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đấu tranh kiên quyết với biểu hiện coi nhẹ truyền thống, phủ nhận quá khứ, gieo rắc tư tưởng, lối sống thực dụng, mang nặng chủ nghĩa cá nhân.
Mặt khác, quân đội mở rộng giao lưu với quân đội và nhân dân các nước trên thế giới, nhằm tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, phát triển nó phù hợp, phù hợp với đặc điểm hoạt động quân sự và bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam, “hòa nhập nhưng không hoà tan”.
Phát huy, làm phong phú những phẩm chất tốt đẹp của “Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ”, tự hoàn thiện mình, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới của đất nước, xứng đáng với niềm tin cậy và niềm tự hào của Đảng ta, nhân dân ta đó là vinh dự đồng thời cũng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội./.
                                            Chu Tuấn

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với học tập và làm theo Bác trong Đảng bộ Quân đội hiện nay           Thời g...