Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018


Tỉnh táo nhận diện những lời lẽ xuyên tạc “lá phiếu tín nhiệm”
          Theo kế hoạch, ngày mai (25-12), Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng khóa XII sẽ khai mạc tại Hà Nội. Một trong những nội dung quan trọng của hội nghị lần này là BCH Trung ương tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XII.
          Đây là việc làm cần thiết nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đồng thời góp phần đánh giá thực chất chất lượng, hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng.
          Theo Quy định số 262-QĐ/TW ngày 8-10-2014 của BCH Trung ương Đảng khóa XI “Về việc lấy phiếu tín nhiệm với các thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội”, việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành định kỳ vào năm thứ ba là năm giữa nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp. Theo kế hoạch, tại hội nghị lần này, BCH Trung ương Đảng sẽ tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư. Đây là công việc bình thường của Đảng nhằm thu thập thông tin, nhận định, đánh giá khách quan phẩm chất, năng lực và chất lượng, hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng.
          Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các thành viên lãnh đạo cấp cao của Đảng luôn nhận được sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân và dư luận xã hội. Tuy nhiên, đón trước sự kiện này, một số người đã tỏ ra “quan tâm thái quá”, “lo lắng trên mức bình thường”; có người “cầm đèn chạy trước ô tô” bày tỏ sự hoài nghi, đoán già đoán non rằng, việc lấy phiếu tín nhiệm của Trung ương Đảng chỉ là hình thức, "vuốt ve" nhau (!). Có người còn cực đoan nhìn nhận, việc đánh giá mức độ tín nhiệm thông qua 3 mức độ là “tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp” không những không đánh giá đúng thực chất đối tượng được đánh giá, mà còn “đánh đồng” giữa những người có tín nhiệm cao và tín nhiệm thấp (!). Trắng trợn hơn, có kẻ cơ hội chính trị xuyên tạc rằng, đối với một chế độ cộng sản độc tài thì việc lấy phiếu tín nhiệm trong Đảng chỉ là một cách “che mắt, đánh lừa dư luận” về dân chủ trong Đảng (!); thậm chí còn rêu rao, sau những cuộc đấu tranh, thanh trừng giữa các phe phái trong Đảng, những phiếu tín nhiệm cao sẽ thuộc về phe bảo thủ tạm thời thắng thế trên đấu trường chính trị (!).
          Thành ngữ có câu “Nghe hơi nồi chõ” với hàm ý phê phán những kẻ hay hóng hớt, thích “chõ mũi” vào câu chuyện người khác, dù chưa biết thực hư ra sao nhưng vẫn phỏng đoán lung tung, bàn ra tán vào không có cơ sở. Cũng có câu thành ngữ “Thầy bói xem voi” với ý chê bai những kẻ xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng theo cảm tính chủ quan, phiến diện, một chiều, chỉ nhìn thấy hiện tượng đơn lẻ mà không thấy bản chất cũng như tính khách quan, toàn diện, thấu đáo của vấn đề trên mọi khía cạnh. Khi Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa XII chưa diễn ra, mà những “kẻ ngoài lề” vẫn tùy tiện nhận định việc lấy phiếu tín nhiệm trong Đảng như vậy cũng chẳng khác nào “nghe hơi nồi chõ” và “thầy bói xem voi”!
     Việc lấy phiếu tín nhiệm đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là việc làm cần thiết, được thực hiện dân chủ, khách quan, công bằng, minh bạch. Thông qua lá phiếu tín nhiệm nhằm giúp cấp ủy có một kênh thông tin tham khảo quan trọng, làm cơ sở cho việc đánh giá chính xác, bố trí sử dụng đúng cán bộ. Việc xác định 3 mức độ “tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp” trong quy trình lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo không phải là hình thức “cào bằng” khi xem xét, nhận định mức độ hoàn thành cương vị chức trách của cán bộ như có người suy nghĩ phiến diện, mà chủ yếu nhằm tiếp cận, đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và chất lượng, hiệu quả công tác của người được lấy phiếu tín nhiệm. Hơn nữa, việc xác định 3 mức độ tín nhiệm này nhằm bảo đảm cho việc lấy phiếu tín nhiệm được khách quan hơn, thận trọng hơn, thấu đáo hơn, tránh hiện tượng cảm tính mà người bỏ phiếu dễ nhận định, đánh giá chưa đúng mực, chuẩn xác về cán bộ được lấy phiếu tín nhiệm.
          Quy định số 262-QĐ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo dựa trên hai tiêu chí căn bản là phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực thực tiễn. Vì vậy, những cán bộ nào có lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm cao trong công tác, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, có đức tính trung thực, công tâm, liêm khiết, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, bản thân và gia đình gương mẫu về đạo đức, lối sống, có uy tín trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được phân công và góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương mình phụ trách ngày càng vững mạnh, phát triển thì chắc chắn nhận được nhiều số phiếu ủng hộ, tín nhiệm cao.  
          Đảng ta đã có kinh nghiệm tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư tại Hội nghị lần thứ 10 BCH Trung ương Đảng khóa XI. Trên cơ sở những kết quả đã đạt được từ lần lấy phiếu tín nhiệm đầu tiên, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng và khẳng định rằng, việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư lần này sẽ được BCH Trung ương thực hiện dân chủ, khách quan, công tâm, minh bạch, bảo đảm đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra.
          Với truyền thống đoàn kết và trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, đợt lấy phiếu tín nhiệm lần này đối với các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng sẽ được tiến hành bài bản, chu đáo, thận trọng, nghiêm túc. Động thái này thêm một lần khẳng định Đảng ta nói chung, mỗi cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng nói riêng luôn có ý thức, tinh thần cầu thị, tôn trọng lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng và nhân dân. Những thông số của mỗi lá phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng là tiền đề, cơ sở để mỗi cán bộ được lấy phiếu tín nhiệm tiếp tục rèn luyện, phấn đấu, không ngừng hoàn thiện phẩm chất nhân cách và nâng cao năng lực công tác, thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn cương vị, trọng trách được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
        Chu Tuấn – Theo báo QĐND

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh giản, kiện toàn bộ máy gắn với sửa đổi phong cách, lề lối làm việc của cán bộ

Là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một kho tàng lý luận phong phú về xây dựng Đảng. Trong đó những tư tưởng của Người về tinh giản, kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với sửa đổi phong cách, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ có ý nghĩa rất thiết thực, nhất là khi chúng ta đang thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, 6 và 7 (khóa XII) hiện nay. Vì vậy, việc khai thác những di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này, có thể khái quát ở một số nội dung sau:
Một là, tổ chức bộ máy phải tinh gọn, hiệu quả, luôn đổi mới, chỉnh đốn cho phù hợp. Ngay trong những ngày đầu của nền độc lập, Hồ Chí Minh nói nhiều về sự cần thiết, những nội dung, yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy của chính quyền cách mạng non trẻ qua loạt bài “Cách tổ chức các UBND”, “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, “Chính phủ là công bộc của dân”, “Tinh thần tự động trong các UBND”, “Sao cho được lòng dân”, “Thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng”. Đặc biệt trong bài “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các UBND”, Hồ Chí Minh lưu ý: “Một khuyết điểm lớn chung cho phần đông các UBND là bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức… Trong một Ủy ban, nhiều khi có người rất rỗi rãi, cả ngày chỉ chạy ra chạy vào cho có chuyện, có người lại bù đầu rối óc vì một mình phải kiêm đến mấy việc: nào ngoại giao, nào tư pháp, nào tài chính. Chia công việc không khéo thành ra tư biện: nhiều việc quá thì sao làm được đến nơi đến chốn, vì thì giờ và sức lực người ta chỉ có chừng”. Bước sang năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở thời kỳ gay go, quyết liệt, Hồ Chí Minh lại có một số bài chấn chỉnh lề lối, phương pháp, nhất là về tổ chức bộ máy, như “Thư gửi các đồng chí Bắc bộ”, “Thư gửi các đồng chí Trung bộ”, trong đó Người đều nhấn mạnh: “Trong các cơ quan chỉ huy, chọn người phải đích đáng, quyền hạn phải phân minh, liên lạc phải mật thiết, hợp tác phải chặt chẽ, phải tuyệt đối tránh cái lối lạm quyền, bao biện, xung đột, phù diện và suy tỵ, không phụ trách”. Hồ Chí Minh cho rằng, nhiều người làm thành một tổ chức, nhưng mỗi người đều có vị trí quan trọng trong bộ máy tổ chức đó: “Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác, nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng”.
Từ chiều sâu bản chất quý trọng và thương yêu con người, Hồ Chí Minh xác định dù ở mỗi người tài năng có khác nhau nhưng đều có vai trò to lớn đối với sự nghiệp cách mạng. Người đã ví cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Người nói: “Chúng ta, tất cả mọi người, bất kỳ ở một chức vụ nào, cao hay thấp, to hay nhỏ, tất cả mọi người làm thành một bộ máy. Thiếu một người nào hay có một người làm không tròn nhiệm vụ là hỏng cả”. Trong thư gửi Hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc (2-1950), Hồ Chí Minh yêu cầu hội nghị cần hướng vào thảo luận những vấn đề căn cốt, thúc bách của tổ chức, để các tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị: “Thảo luận kỹ lưỡng những vấn đề rất quan trọng như: Chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy chính quyền; sửa đổi và thống nhất cách làm việc; thiết thực thực hiện quân dân chính nhất trí; giải quyết vấn đề cán bộ”. Có thể nói, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới, chỉnh đốn tổ chức bộ máy luôn là một công việc thường xuyên phải làm. Ngày 10-9-1950, dự chiến dịch Đông Khê, Người có bài viết “Chỉnh đốn Đoàn thể và chính quyền” với bút danh X.Y.Z, có đoạn: Chính quyền và đoàn thể (Đảng) cũng cần thường xuyên rửa các bộ máy của mình, để tẩy trừ những phần tử bất chính, đầu cơ và chỉnh đốn lại cách làm việc cho gọn gàng, mau chóng. Năm 1951, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, để dồn sức cho cuộc kháng chiến, giảm tải sự đóng góp của nhân dân, Người đưa ra biện pháp cụ thể: “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân, và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất (25-6-1952), Hồ Chí Minh không chỉ khen ngợi những kết quả của ngành đã đạt được mà Người còn chỉ rõ hiện trạng tổ chức bộ máy và đưa ra lộ trình, phương châm sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả. Người chỉ dẫn “Nói chung, các cơ quan, đều phải tiết kiệm. Riêng cơ quan cung cấp tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý, mọi người đều có công việc thiết thực, những người thừa phải đưa đi chỗ thiếu, những người ở lại phải thi đua nâng cao năng suất của mình. Thế là tinh giản, tinh là năng suất lên cao, làm cho mau cho tốt, giản là vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức”. Để bộ máy vận hành hoạt động có hiệu quả, theo Hồ Chí Minh mấu chốt là xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, bộ phận, của mỗi cán bộ. Đây là cơ sở để mỗi tổ chức, cán bộ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Bộ máy hoạt động vận hành có hiệu quả, không có sự chồng lấn về nhiệm vụ. Trước yêu cầu cấp thiết đó, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tổ chức phải gọn gàng. Nhiệm vụ của mỗi bộ phận, mỗi người phải quy định rõ ràng. Các cấp và cán bộ lãnh đạo phải giúp đỡ và đôn đốc thường xuyên, phải kiểm tra chặt chẽ”. Bởi công tác tổ chức quyết định cán bộ - quyết định đến số lượng, cơ cấu, phẩm chất và trình độ chuyên môn của cán bộ.
 Nếu vận hành không tốt thì hệ quả dẫn tới những lệch lạc đáng tiếc trong thiết kế bộ máy và thực thi công vụ. Hồ Chí Minh đã dự liệu trước những khó khăn phức tạp, tinh tế của công tác tổ chức. Do đó, Người yêu cầu các cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ phải bố trí đúng người, đúng việc, đúng với sở trường của cán bộ. Người chỉ dẫn: “Công việc có việc khó việc dễ, việc nặng việc nhẹ. Phải phân phối thế nào cho người đúng với việc, việc đúng với người”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Khi cần điều động một người cán bộ cao cấp, thì phải nói rõ lý lịch, năng lực, ưu điểm và khuyết điểm của cán bộ ấy; và vì sao cần phải điều động”. Năm 1962, mặc dù trong điều kiện chiến tranh, chúng ta tổ chức hệ thống chính trị theo mô hình Xô-viết, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mối liên hệ giữa tổ chức bộ máy và biên chế, khi bộ máy cồng kềnh thì biên chế phình ra và dẫn tới vừa quan liêu, vừa lãng phí. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị truyền đạt Nghị quyết của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ về kế hoạch Nhà nước năm (11-1-1962), Người chỉ rõ: “Từ các bộ, ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và ngày càng phình ra. Vì vậy, sinh ra quan liêu, lãng phí. Một nhược điểm nữa là từ các cơ quan Trung ương đến các địa phương chưa thật nhất trí, trên dưới chưa thật thông suốt, đang còn khuynh hướng cục bộ, bản vị…” .
Đặc biệt, Hồ Chí Minh đưa ra những chỉ dẫn về phương pháp khi đổi mới, sắp xếp, chấn chỉnh về bộ máy. Đầu năm 1949, trong “Bài nói chuyện trong buổi lễ bế mạc hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu” ngày 18-1-1949, Người nhấn mạnh: “Chấn chỉnh bộ máy chính quyền từ dưới lên trên, bắt đầu từ xã; dưới làm lên trên, trên làm xuống dưới, tự nhiên mọi việc sẽ thành… Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy đó mà làm”. Nhấn mạnh đến tính liên thông, đồng bộ và sự phụ thuộc lẫn nhau, Người ví: “Một bộ máy là do nhiều thứ máy to nhỏ lắp lại. Các máy ấy đều ăn khớp với nhau, thì bộ máy ấy tốt và sản xuất nhiều. Nếu chỉ một cái máy nhỏ không ăn khớp, thì cũng ảnh hưởng xấu đến toàn cả bộ máy”. Theo Hồ Chí Minh, chỉnh đốn, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy, phải luôn luôn được đặt ra. Năm 1952, trong “Báo cáo tại Hội nghị Trung ương 3, khóa II”, Hồ Chí Minh lưu ý: Về chính quyền. Chúng ta có tiến bộ nhiều, nhưng vì chúng ta quan niệm chưa đúng tính chất và sự quan trọng của chính quyền nhân dân nên chưa thực sự kiện toàn chính quyền về mặt công tác, tổ chức, cán bộ. Và một trong các giải pháp mà Người đề ra là: Chỉnh Đảng là việc chính mà chúng ta phải làm ngay. Chỉnh Đảng phải làm từng bước và có trọng tâm: Chỉnh đốn tư tưởng trước rồi mới chỉnh đốn tổ chức. Chỉnh huấn cán bộ rồi mới chỉnh huấn toàn thể đảng viên. Chỉnh đốn cán bộ cao cấp phải do Trung ương trực tiếp lãnh đạo vì đó là mấu chốt của việc chỉnh đốn toàn Đảng. Chính nhờ đợt chỉnh Đảng, chỉnh cán, chỉnh quân những năm 1952-1953, đây là một trong những nguyên nhân tạo ra sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chúng ta cũng cần rút ra những kinh nghiệm tốt từ những đợt chỉnh huấn này dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch.
Hai là, xây dựng phong cách, phương pháp, sửa đổi lối làm việc. Khi coi con người “là vốn quý nhất”, theo Hồ Chí Minh, gắn với đổi mới tổ chức bộ máy là đổi mới phong cách, tác phong, phương pháp, lề lối làm việc và chính phong cách, tác phong, phương pháp, lề lối làm việc của cán bộ là biểu hiện của cơ chế, các mối quan hệ trong vận hành tổ chức bộ máy. Người khái quát: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Trong lời khai mạc Hội nghị Trung ương 7 (khóa II) ngày 3-3-1955, Người nhấn mạnh đến kiện toàn bộ máy, phương pháp, lề lối làm việc để nâng cao hiệu quả công tác: “Tổ chức của Đảng cần phải kiện toàn hơn. Lề lối làm việc cần phải tiến bộ hơn”. Kiện toàn tổ chức bộ máy xét tới cùng là nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, nội bộ đoàn kết thống nhất, nâng cao năng suất, hiệu quả công tác, giúp cho bộ máy hoạt động thông suốt, nhịp nhàng. Phẩm chất, bản lĩnh và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ là nhân tố quan trọng tạo nên chất lượng tổ chức bộ máy, vì cán bộ là nhân tố quyết định, là “cái gốc của mọi công việc”. Bởi vậy, theo Hồ Chí Minh: “Kiện toàn tổ chức và lề lối làm việc; nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật và đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ và đảng viên” là hai mặt của một vấn đề đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ “bất kỳ chỗ nào, bất kỳ việc gì, Đảng và Chính phủ đã giao thì các cô, các chú phải quyết tâm làm cho trọn, không nên muốn thế này thế khác”. Trong bài “Xin chỉ thị, gửi báo cáo”, Người đã nêu rõ vì sao trước khi làm phải xin chỉ thị của cấp trên, sau khi làm xong phải báo cáo. Thời kỳ đầu 1950, có tình trạng như vậy, cho thấy tác phong tùy tiện, cẩu thả, vô kỷ luật còn phổ biến trong bộ máy. Để khắc phục tình trạng này, những chỉ dẫn về nội dung, phương pháp, quy trình, trách nhiệm người viết báo cáo của Người trong bài viết còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Hồ Chí Minh căn dặn: “Không tự kiêu, không có bệnh làm “quan cách mạng”. Phải siêng năng, siêng nghĩ, siêng nghe, siêng thấy, siêng đi, siêng nói, siêng làm. Cầu tiến bộ luôn luôn. Không lúc nào không ngừng nghiên cứu, tự rèn luyện, sửa chữa khuyết điểm”. Người cũng luôn nhắc nhở: “Phải có biện pháp cho tốt, “kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần, và quyết tâm phải ba phần”. Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc. Công tác tư tưởng, chính trị phải kết hợp chặt chẽ với công tác kế hoạch”. Và “Kế hoạch phải thật tỷ mỷ. Hợp đồng phải thật khớp. Bí mật phải thật tuyệt đối. Hành động phải thật kiên quyết. Cán bộ phải thật gương mẫu”. Và “cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”… Đây là những chỉ dẫn rất quý báu về phương pháp, tác phong, lề lối làm việc của người cán bộ hiện nay.
Ngay từ những ngày đầu thành lập bộ máy chính quyền cách mạng, cũng như sau khi ĐCS Việt Nam ra hoạt động công khai, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm tới vấn đề phải nâng cao đạo đức cách mạng, xây dựng phong cách, tác phong làm việc khoa học, sát dân, trọng thực tiễn, “nói đi đôi với làm”… của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Không phải ngẫu nhiên Hồ Chí Minh nói nhiều về vấn đề này. Rõ ràng trong khi tình hình cách mạng thay đổi nhanh chóng, phức tạp; bộ máy đảng, nhà nước còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, thì vấn đề quan trọng là lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên phải được coi trọng. Trong rất nhiều bài viết, thư, bài nói chuyện với cán bộ, nhân dân, như “Đời sống mới”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quyét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “người tốt, việc tốt””, “Di chúc”… Hồ Chí Minh đã chỉ ra một cách có hệ thống, toàn diện, cụ thể, thiết thực: từ vì sao (sự cần thiết) phải xây dựng đạo đức cách mạng, sửa đổi tác phong, lề lối làm việc đến việc chỉ ra (nhận diện) những căn bệnh cố hữu, tệ của xã hội cũ, của nền sản xuất nhỏ, của hậu quả thực dân ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ các giải pháp để nâng cao đạo đức cách mạng quyét sạch chủ nghĩa cá nhân, sửa đổi lối làm việc đến vai trò của tổ chức đảng, người đứng đầu và vai trò của tự tu dưỡng, tự rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Từ vai trò tự nêu gương, tiền phong, gương mẫu, chú trọng thực hành của mỗi cán bộ, đảng viên đến việc tuyên truyền, giáo dục, tổ chức nhân dân làm theo… Ví dụ, trong mục “Mấy điều kinh nghiệm” trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Người nhấn mạnh làm bất cứ việc gì đều phải nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc, phải phân tích kỹ càng xem việc làm ấy vì sao đưa đến thành công để học tập kinh nghiệm, để đặt ra khuôn phép cho những công việc khác, để nhân rộng cái tốt, cái hay. Nếu không nghiên cứu, phân tích thì việc nào xong việc ấy, cán bộ không học được kinh nghiệm gì và cũng không thể tiến bộ được.
Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về tinh giản biên chế, kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với sửa đổi phong cách, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên là những định hướng, cơ sở phương pháp luận để Đảng ta củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ hiện nay./.
      

                          Chu Tuấn

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với học tập và làm theo Bác trong Đảng bộ Quân đội hiện nay           Thời g...