Thứ Ba, 5 tháng 2, 2019


Nhận diện “bệnh công thần”

         
Có những người tự coi mình là “công thần”, “đại thần” và rồi tự cho bản thân, người nhà hưởng những đặc quyền, đặc lợi.
          Trong các căn bệnh mà cán bộ, đặc biệt là những cán bộ được bổ nhiệm chức danh lãnh đạo hay mắc phải thời gian vừa qua, bệnh “công thần” dù ít được nhắc đến nhưng nó lại đang hiện hữu không ít trong thực tế. Có những người lãnh đạo tự cho mình là quan trọng, tự cho mình là người đã đóng góp lớn cho Đảng, Nhà nước và sau đó đưa ra các yêu sách, đòi hỏi về những đặc quyền, đặc lợi cho bản thân, gia đình.
          Bàn về “thói hư tật xấu” của cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ trực tiếp căn bệnh công thần: “Còn bệnh công thần thì tỏ như thế này: Cậy mình có một ít thành tích, thì tự kiêu tự đại, cho mình là “cứu tinh” của dân, “công thần” của Đảng… Cậy thế mình là người của Đảng, phớt cả kỷ luật và cả cấp trên trong các đoàn thể nhân dân hoặc cơ quan Chính phủ. Những đồng chí mắc bệnh ấy không hiểu rằng: mỗi đảng viên cần phải làm kiểu mẫu phục tùng kỷ luật chẳng những kỷ luật của Đảng, mà cả kỷ luật của các đoàn thể nhân dân và của cơ quan chính quyền cách mạng".
          Cán bộ là sức mạnh của quốc gia, là linh hồn của toàn hệ thống chính trị. Vậy nhưng đáng buồn thay, thời gian vừa qua, không ít cán bộ, thậm chí là lãnh đạo cấp cao trong các cơ quan, đơn vị lại đang có dấu hiệu “ngồi nhầm ghế”, đi nhầm phòng. Cùng với đó, không ít người đang có biểu hiện mắc căn bệnh “công thần”. Thậm chí, có người không chỉ đòi hỏi những đặc quyền, đặc lợi cho cá nhân mà còn dung túng cho vợ con, họ hàng sử dụng ảnh hưởng của bản thân để mưu cầu những lợi ích cá nhân.
          Tôi còn nhớ trong một lần thảo luận dự thảo Luật về hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã phát biểu: “Điển hình nhất là có Thứ trưởng cứ về hưu là ra làm chủ tịch hiệp hội, xin thành lập hội rồi xin nhà, xin xe, thậm chí xin cả biên chế”. Tự cho mình là bậc “đại thần”, các cán bộ của ta dù đã lui về “hậu trường” nhưng vẫn đòi hỏi Đảng, Nhà nước chuyện “không tưởng”, đòi hỏi những đặc quyền, đặc lợi đến khó chấp nhận.
          Có người thì đưa ra đòi hỏi về vật chất, đòi nhà, đòi xe; có người lại đưa ra đòi hỏi về vị trí “ghế ngồi”, đòi chức, đòi quyền cho con, em mình. Để rồi sau đó, khi yêu cầu không được đáp ứng thì không ít người lại sinh ra ấm ức, khục khặc, bất mãn với chính quyền. Thậm chí, có người từng gắn bó cả đời với Đảng nhưng khi về hưu chỉ vì không được “vuốt ve”, yêu chiều, chỉ vì những đòi hỏi không được đáp ứng mà sinh ra chống đối, xét lại.
          Họ cho rằng cán bộ thế hệ sau là “không lễ phép”, là “hư hỏng”, là “không biết trước sau”. Muôn vàn lý do được đưa ra để họ thấy… ghét. Và hiển nhiên, sau khi đã “ghét” thì họ sinh ra không ưa, bất mãn. Từ đây, họ bắt đầu nảy sinh sự thù hằn đội ngũ lãnh đạo, dần dần dẫn đến việc thù hằn chế độ, thù hằn Đảng. Có những người còn quay 180 độ, trở thành các phần tử cực đoan chống đối Đảng, Nhà nước ta.
          Một số người đang tại chức, tại quyền cũng mắc phải căn bệnh công thần này. Chỉ với một chút đóng góp, một chút thành tựu nhưng nhiều người đã coi trời bằng vung, coi mình là trung tâm của vũ trụ. Thậm chí, có những người ảo tưởng về sức mạnh của bản thân, tự cho mình là “cứu tinh” của nhân dân. Cũng từ căn bệnh công thần này sinh ra rất nhiều bệnh tật nguy hiểm khác.
Với nhân dân, với cấp dưới, họ cho mình vị thế “cao cao tại thượng”, bắt mọi người phải khép nép, nhún nhường mình. Dần dà, họ trở nên xa cách với quần chúng nhân dân, trở nên hách dịch, cửa quyền.
          Với cấp trên, khi có chút đóng góp, họ trở nên tự kiêu, tự đại, không tôn trọng mệnh lệnh của chỉ huy, người đứng đầu. Đúng như Bác Hồ từng phân tích, người mắc bệnh công thần “đòi địa vị, đòi danh vọng. Việc to không làm được, việc nhỏ không muốn làm”.
          Việc này kéo theo vấn đề nội bộ trở nên mâu thuẫn, mất đoàn kết, khiến cho tập thể bị suy yếu. Và cuối cùng, cả một hệ thống phải gánh chịu những hậu quả, thiệt hại do căn bệnh công thần của một người gây ra.
          Căn “bệnh công thần” vô cùng nguy hiểm. Ở một góc độ nhất định, những người mắc bệnh công thần cũng nguy hiểm không kém những người tham nhũng. Tất cả đều làm suy yếu nội bộ, khiến cho bản chất cách mạng của người cán bộ bị biến chuyển.
      Chu Tuấn                                                     


Nhận diện để không chệch hướng, không đổi màu trong tình hình mới

         
Đổi mới phải định hướng đúng, không chệch hướng, không đổi màu, hòa nhập mà không hòa tan là nguyên tắc cao nhất bất di bất dịch đã được Đảng, Nhà nước ta nêu ra và kiên trì thực hiện từ đầu những năm đổi mới.
          Thực hiện đúng theo nguyên tắc đó công cuộc đổi mới ở Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo hơn 30 năm qua đã vượt qua nhiều khó khăn thách thức liên tiếp giành được thắng lợi to lớn như ngày nay. Chúng ta nhận thức không chệch hướng tức là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
          Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, giữ vững sự ổn định về chính trị và an sinh xã hội. Không đổi màu là giữ vững hệ tư tưởng chính trị, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, loại trừ chủ nghĩa thựåc dụng, chủ nghĩa cá nhân, chống “diễn biến” và “tự diễn biến”, “tự suy thoái”.
          Thực tiễn cách mạng nước ta chỉ ra căn cứ vào tình hình mỗi giai đoạn mà Đảng nhấn mạnh từng vấn đề cho phù hợp. Chẳng hạn như thời kì đầu những năm đổi mới chúng ta rất chú ý đến vấn đề hòa nhập nhưng không hòa tan. Đây là vấn đề rất quan trọng. Bởi từ bị bao vây cấm vận nay được tự do mở rộng cánh cửa hợp tác, hội nhập với quốc tế thì có thể rất dễ bị “choáng ngợp”, rất dễ bị hòa tan.
          Hòa tan đồng nghĩa với chệch hướng và cũng đồng nghĩa với đổi màu. Đến nay khi mà công cuộc đổi mới đã giành được thắng lợi bước đầu, âm mưu thâm hiểm của thế lực thù địch là tấn công làm suy yếu ta từ bên trong, từ nội bộ thì chúng ta lại chú ý nhấn mạnh đến vấn đề chống “diễn biến” và “tự diễn biến”, “tự suy thoái”. Vì lúc này những vấn đề đó liên quan đến vận mệnh của Đảng, Nhà nước ta.
          Vừa qua trong hội nghị của tiểu ban văn kiện Đại hội Đảng khóa XIII (7-1-2019), vấn đề về nguyên tắc đổi mới lại được khẳng định.
          Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Tư tưởng chỉ đạo là kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiên định và đổi mới, đổi mới phải kiên định mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa kế thừa và phát triển, giữa lí luận và thực tiễn. Đây là quan điểm nhất quán và xuyên suốt.
          Trong bối cảnh khoa học công nghệ thế giới phát triển, xu hướng toàn cầu hóa ngày càng cao, chủ nghĩa dân túy cùng với những vấn đề về dân chủ, nhân quyền đang bị lợi dụng một cách cố ý thì nhận diện giữa định hướng đúng và chệch hướng, giữa giữ màu và đổi màu nhiều khi rất khó, không đơn giản.
          Bởi cái lằn ranh giới giữa các mặt đối lập giữa cái đúng và cái sai không dễ phân biệt, không dễ nhận ra. Yêu cầu đặt ra là phải nâng cao nhận thức tư tưởng, nhãn quan chính trị đúng đắn, nâng cao trình độ kiến thức hiểu để có tư duy đúng, có chọn lọc một cách khoa học, thận trọng…
          Đồng thời cần đấu tranh với những biểu hiện: Mơ hồ, ảo tưởng, coi nhẹ các âm mưu thù địch trong cuộc đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng hiện nay, coi nhẹ nền tảng chính trị xã hội, thậm chí cho rằng chủ nghĩa xã hội đã lỗi thời, từ bỏ chủ nghĩa xã hội cũng là sự “đổi mới” hợp “xu thế”.
          Nước Việt Nam với dấu ấn mang trên mình là những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc kéo dài và khốc liệt thì chúng ta không xem nhẹ, càng không được mơ hồ, ảo tưởng. 
          Cần làm cho đảng viên và quần chúng thấy rằng, những căng thẳng có thể dẫn tới những điểm nóng đang diễn ra ở không ít nơi trên thế giới hiện nay càng là bài học cho những ai mơ hồ, ảo tưởng; cần chống những tư tưởng đề cao lợi ích kinh tế xem nhẹ lợi ích các quan hệ xã hội, dẫn tới khác biệt giàu nghèo, tạo ra một tầng lớp bóc lột và bị bóc lột mới.
          Phải rất chú ý phát hiện, loại trừ những biểu hiện chệch hướng, đổi màu từ từ, ngấm ngầm một cách tinh vi dưới nhiều hình thức, nhiều triệu chứng như biến chất về tư tưởng, thoái hóa về phẩm chất, lối sống… đó chính là sự “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” đang tồn tại hiện nay.
          Tuy nhiên cần nói thêm rằng chúng ta cũng tránh tư tưởng cực đoan, máy móc, quan trọng hóa những cái được gọi là nguy cơ, từ đó bỏ lỡ thời cơ, không tận dụng được thuận lợi, gây ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của đổi mới. Đó cũng chính là mặt thứ hai của chệch hướng mà chúng ta phải đề phòng.
          Cốt lõi đảm bảo cho sự định hướng đúng, không bị đổi màu là đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất mà quan trọng quyết định là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Bởi đây là vấn đề nhìn xa trông rộng mà phải sâu sắc thấu đáo, là đầu tàu cho sự chuyển bánh của toàn hệ thống chính trị. Sự định hướng đúng, không bị đổi màu được thể hiện từ khâu vạch ra cương lĩnh, đường lối đến khâu tổ chức thực hiện.
          Phải có phương châm hành động cụ thể, phải có nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc và linh hoạt theo lời Bác Hồ dạy “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.
          Những thành quả to lớn của hơn ba mươi năm đổi mới đã tạo nên sức sống mới trên đất nước ta. Nhân dân tin tưởng, thế giới thừa nhận Việt Nam là điểm đến của đổi mới. Với sự lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm của Đảng, chúng ta tin tưởng trong bối cảnh mới con tàu Việt Nam xã hội chủ nghĩa sẽ tiếp tục tăng tốc đúng hướng, công cuộc đổi mới hội nhập của đất nước ta sẽ đạt được những thành tựu ngày càng to lớn và vững chắc hơn.

   Chu Tuấn                                                        

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với học tập và làm theo Bác trong Đảng bộ Quân đội hiện nay           Thời g...