Thứ Hai, 24 tháng 12, 2018


Tỉnh táo nhận diện những lời lẽ xuyên tạc “lá phiếu tín nhiệm”
          Theo kế hoạch, ngày mai (25-12), Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng khóa XII sẽ khai mạc tại Hà Nội. Một trong những nội dung quan trọng của hội nghị lần này là BCH Trung ương tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư khóa XII.
          Đây là việc làm cần thiết nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đồng thời góp phần đánh giá thực chất chất lượng, hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng.
          Theo Quy định số 262-QĐ/TW ngày 8-10-2014 của BCH Trung ương Đảng khóa XI “Về việc lấy phiếu tín nhiệm với các thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội”, việc lấy phiếu tín nhiệm được tiến hành định kỳ vào năm thứ ba là năm giữa nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp. Theo kế hoạch, tại hội nghị lần này, BCH Trung ương Đảng sẽ tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư. Đây là công việc bình thường của Đảng nhằm thu thập thông tin, nhận định, đánh giá khách quan phẩm chất, năng lực và chất lượng, hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng.
          Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các thành viên lãnh đạo cấp cao của Đảng luôn nhận được sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân và dư luận xã hội. Tuy nhiên, đón trước sự kiện này, một số người đã tỏ ra “quan tâm thái quá”, “lo lắng trên mức bình thường”; có người “cầm đèn chạy trước ô tô” bày tỏ sự hoài nghi, đoán già đoán non rằng, việc lấy phiếu tín nhiệm của Trung ương Đảng chỉ là hình thức, "vuốt ve" nhau (!). Có người còn cực đoan nhìn nhận, việc đánh giá mức độ tín nhiệm thông qua 3 mức độ là “tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp” không những không đánh giá đúng thực chất đối tượng được đánh giá, mà còn “đánh đồng” giữa những người có tín nhiệm cao và tín nhiệm thấp (!). Trắng trợn hơn, có kẻ cơ hội chính trị xuyên tạc rằng, đối với một chế độ cộng sản độc tài thì việc lấy phiếu tín nhiệm trong Đảng chỉ là một cách “che mắt, đánh lừa dư luận” về dân chủ trong Đảng (!); thậm chí còn rêu rao, sau những cuộc đấu tranh, thanh trừng giữa các phe phái trong Đảng, những phiếu tín nhiệm cao sẽ thuộc về phe bảo thủ tạm thời thắng thế trên đấu trường chính trị (!).
          Thành ngữ có câu “Nghe hơi nồi chõ” với hàm ý phê phán những kẻ hay hóng hớt, thích “chõ mũi” vào câu chuyện người khác, dù chưa biết thực hư ra sao nhưng vẫn phỏng đoán lung tung, bàn ra tán vào không có cơ sở. Cũng có câu thành ngữ “Thầy bói xem voi” với ý chê bai những kẻ xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng theo cảm tính chủ quan, phiến diện, một chiều, chỉ nhìn thấy hiện tượng đơn lẻ mà không thấy bản chất cũng như tính khách quan, toàn diện, thấu đáo của vấn đề trên mọi khía cạnh. Khi Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa XII chưa diễn ra, mà những “kẻ ngoài lề” vẫn tùy tiện nhận định việc lấy phiếu tín nhiệm trong Đảng như vậy cũng chẳng khác nào “nghe hơi nồi chõ” và “thầy bói xem voi”!
     Việc lấy phiếu tín nhiệm đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đã được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định là việc làm cần thiết, được thực hiện dân chủ, khách quan, công bằng, minh bạch. Thông qua lá phiếu tín nhiệm nhằm giúp cấp ủy có một kênh thông tin tham khảo quan trọng, làm cơ sở cho việc đánh giá chính xác, bố trí sử dụng đúng cán bộ. Việc xác định 3 mức độ “tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp” trong quy trình lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo không phải là hình thức “cào bằng” khi xem xét, nhận định mức độ hoàn thành cương vị chức trách của cán bộ như có người suy nghĩ phiến diện, mà chủ yếu nhằm tiếp cận, đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và chất lượng, hiệu quả công tác của người được lấy phiếu tín nhiệm. Hơn nữa, việc xác định 3 mức độ tín nhiệm này nhằm bảo đảm cho việc lấy phiếu tín nhiệm được khách quan hơn, thận trọng hơn, thấu đáo hơn, tránh hiện tượng cảm tính mà người bỏ phiếu dễ nhận định, đánh giá chưa đúng mực, chuẩn xác về cán bộ được lấy phiếu tín nhiệm.
          Quy định số 262-QĐ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa XI đã chỉ rõ: Việc lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo dựa trên hai tiêu chí căn bản là phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực thực tiễn. Vì vậy, những cán bộ nào có lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm cao trong công tác, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc, có đức tính trung thực, công tâm, liêm khiết, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, bản thân và gia đình gương mẫu về đạo đức, lối sống, có uy tín trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; đồng thời dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hoàn thành xuất sắc chức trách, nhiệm vụ được phân công và góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị, địa phương mình phụ trách ngày càng vững mạnh, phát triển thì chắc chắn nhận được nhiều số phiếu ủng hộ, tín nhiệm cao.  
          Đảng ta đã có kinh nghiệm tổ chức lấy phiếu tín nhiệm các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư tại Hội nghị lần thứ 10 BCH Trung ương Đảng khóa XI. Trên cơ sở những kết quả đã đạt được từ lần lấy phiếu tín nhiệm đầu tiên, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng và khẳng định rằng, việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư lần này sẽ được BCH Trung ương thực hiện dân chủ, khách quan, công tâm, minh bạch, bảo đảm đúng mục tiêu, yêu cầu đề ra.
          Với truyền thống đoàn kết và trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, đợt lấy phiếu tín nhiệm lần này đối với các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng sẽ được tiến hành bài bản, chu đáo, thận trọng, nghiêm túc. Động thái này thêm một lần khẳng định Đảng ta nói chung, mỗi cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng nói riêng luôn có ý thức, tinh thần cầu thị, tôn trọng lắng nghe và tiếp thu ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng và nhân dân. Những thông số của mỗi lá phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng là tiền đề, cơ sở để mỗi cán bộ được lấy phiếu tín nhiệm tiếp tục rèn luyện, phấn đấu, không ngừng hoàn thiện phẩm chất nhân cách và nâng cao năng lực công tác, thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn cương vị, trọng trách được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.
        Chu Tuấn – Theo báo QĐND

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh giản, kiện toàn bộ máy gắn với sửa đổi phong cách, lề lối làm việc của cán bộ

Là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một kho tàng lý luận phong phú về xây dựng Đảng. Trong đó những tư tưởng của Người về tinh giản, kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với sửa đổi phong cách, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ có ý nghĩa rất thiết thực, nhất là khi chúng ta đang thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, 6 và 7 (khóa XII) hiện nay. Vì vậy, việc khai thác những di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này, có thể khái quát ở một số nội dung sau:
Một là, tổ chức bộ máy phải tinh gọn, hiệu quả, luôn đổi mới, chỉnh đốn cho phù hợp. Ngay trong những ngày đầu của nền độc lập, Hồ Chí Minh nói nhiều về sự cần thiết, những nội dung, yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy của chính quyền cách mạng non trẻ qua loạt bài “Cách tổ chức các UBND”, “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, “Chính phủ là công bộc của dân”, “Tinh thần tự động trong các UBND”, “Sao cho được lòng dân”, “Thư gửi UBND các kỳ, tỉnh, huyện và làng”. Đặc biệt trong bài “Thiếu óc tổ chức - một khuyết điểm lớn trong các UBND”, Hồ Chí Minh lưu ý: “Một khuyết điểm lớn chung cho phần đông các UBND là bệnh lộn xộn, thiếu tổ chức… Trong một Ủy ban, nhiều khi có người rất rỗi rãi, cả ngày chỉ chạy ra chạy vào cho có chuyện, có người lại bù đầu rối óc vì một mình phải kiêm đến mấy việc: nào ngoại giao, nào tư pháp, nào tài chính. Chia công việc không khéo thành ra tư biện: nhiều việc quá thì sao làm được đến nơi đến chốn, vì thì giờ và sức lực người ta chỉ có chừng”. Bước sang năm 1947, khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang ở thời kỳ gay go, quyết liệt, Hồ Chí Minh lại có một số bài chấn chỉnh lề lối, phương pháp, nhất là về tổ chức bộ máy, như “Thư gửi các đồng chí Bắc bộ”, “Thư gửi các đồng chí Trung bộ”, trong đó Người đều nhấn mạnh: “Trong các cơ quan chỉ huy, chọn người phải đích đáng, quyền hạn phải phân minh, liên lạc phải mật thiết, hợp tác phải chặt chẽ, phải tuyệt đối tránh cái lối lạm quyền, bao biện, xung đột, phù diện và suy tỵ, không phụ trách”. Hồ Chí Minh cho rằng, nhiều người làm thành một tổ chức, nhưng mỗi người đều có vị trí quan trọng trong bộ máy tổ chức đó: “Cách mạng cũng như một bộ máy, phải có phân công, người làm việc này, người làm việc khác, nhưng việc nào cũng cần thiết, cũng quan trọng”.
Từ chiều sâu bản chất quý trọng và thương yêu con người, Hồ Chí Minh xác định dù ở mỗi người tài năng có khác nhau nhưng đều có vai trò to lớn đối với sự nghiệp cách mạng. Người đã ví cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Người nói: “Chúng ta, tất cả mọi người, bất kỳ ở một chức vụ nào, cao hay thấp, to hay nhỏ, tất cả mọi người làm thành một bộ máy. Thiếu một người nào hay có một người làm không tròn nhiệm vụ là hỏng cả”. Trong thư gửi Hội nghị kháng chiến hành chính toàn quốc (2-1950), Hồ Chí Minh yêu cầu hội nghị cần hướng vào thảo luận những vấn đề căn cốt, thúc bách của tổ chức, để các tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị: “Thảo luận kỹ lưỡng những vấn đề rất quan trọng như: Chỉnh đốn và kiện toàn bộ máy chính quyền; sửa đổi và thống nhất cách làm việc; thiết thực thực hiện quân dân chính nhất trí; giải quyết vấn đề cán bộ”. Có thể nói, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới, chỉnh đốn tổ chức bộ máy luôn là một công việc thường xuyên phải làm. Ngày 10-9-1950, dự chiến dịch Đông Khê, Người có bài viết “Chỉnh đốn Đoàn thể và chính quyền” với bút danh X.Y.Z, có đoạn: Chính quyền và đoàn thể (Đảng) cũng cần thường xuyên rửa các bộ máy của mình, để tẩy trừ những phần tử bất chính, đầu cơ và chỉnh đốn lại cách làm việc cho gọn gàng, mau chóng. Năm 1951, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, để dồn sức cho cuộc kháng chiến, giảm tải sự đóng góp của nhân dân, Người đưa ra biện pháp cụ thể: “Thực hành chấn chỉnh biên chế, để bớt sự đóng góp cho dân, và thêm lực lượng vào công việc tăng gia sản xuất”. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất (25-6-1952), Hồ Chí Minh không chỉ khen ngợi những kết quả của ngành đã đạt được mà Người còn chỉ rõ hiện trạng tổ chức bộ máy và đưa ra lộ trình, phương châm sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả. Người chỉ dẫn “Nói chung, các cơ quan, đều phải tiết kiệm. Riêng cơ quan cung cấp tổ chức còn kềnh càng, thừa người, phải sắp xếp cho gọn gàng, hợp lý, mọi người đều có công việc thiết thực, những người thừa phải đưa đi chỗ thiếu, những người ở lại phải thi đua nâng cao năng suất của mình. Thế là tinh giản, tinh là năng suất lên cao, làm cho mau cho tốt, giản là vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức”. Để bộ máy vận hành hoạt động có hiệu quả, theo Hồ Chí Minh mấu chốt là xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, bộ phận, của mỗi cán bộ. Đây là cơ sở để mỗi tổ chức, cán bộ thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Bộ máy hoạt động vận hành có hiệu quả, không có sự chồng lấn về nhiệm vụ. Trước yêu cầu cấp thiết đó, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tổ chức phải gọn gàng. Nhiệm vụ của mỗi bộ phận, mỗi người phải quy định rõ ràng. Các cấp và cán bộ lãnh đạo phải giúp đỡ và đôn đốc thường xuyên, phải kiểm tra chặt chẽ”. Bởi công tác tổ chức quyết định cán bộ - quyết định đến số lượng, cơ cấu, phẩm chất và trình độ chuyên môn của cán bộ.
 Nếu vận hành không tốt thì hệ quả dẫn tới những lệch lạc đáng tiếc trong thiết kế bộ máy và thực thi công vụ. Hồ Chí Minh đã dự liệu trước những khó khăn phức tạp, tinh tế của công tác tổ chức. Do đó, Người yêu cầu các cấp ủy, cơ quan tổ chức cán bộ phải bố trí đúng người, đúng việc, đúng với sở trường của cán bộ. Người chỉ dẫn: “Công việc có việc khó việc dễ, việc nặng việc nhẹ. Phải phân phối thế nào cho người đúng với việc, việc đúng với người”. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Khi cần điều động một người cán bộ cao cấp, thì phải nói rõ lý lịch, năng lực, ưu điểm và khuyết điểm của cán bộ ấy; và vì sao cần phải điều động”. Năm 1962, mặc dù trong điều kiện chiến tranh, chúng ta tổ chức hệ thống chính trị theo mô hình Xô-viết, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ mối liên hệ giữa tổ chức bộ máy và biên chế, khi bộ máy cồng kềnh thì biên chế phình ra và dẫn tới vừa quan liêu, vừa lãng phí. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị truyền đạt Nghị quyết của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ về kế hoạch Nhà nước năm (11-1-1962), Người chỉ rõ: “Từ các bộ, ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và ngày càng phình ra. Vì vậy, sinh ra quan liêu, lãng phí. Một nhược điểm nữa là từ các cơ quan Trung ương đến các địa phương chưa thật nhất trí, trên dưới chưa thật thông suốt, đang còn khuynh hướng cục bộ, bản vị…” .
Đặc biệt, Hồ Chí Minh đưa ra những chỉ dẫn về phương pháp khi đổi mới, sắp xếp, chấn chỉnh về bộ máy. Đầu năm 1949, trong “Bài nói chuyện trong buổi lễ bế mạc hội nghị cán bộ của Đảng lần thứ sáu” ngày 18-1-1949, Người nhấn mạnh: “Chấn chỉnh bộ máy chính quyền từ dưới lên trên, bắt đầu từ xã; dưới làm lên trên, trên làm xuống dưới, tự nhiên mọi việc sẽ thành… Muốn làm được những việc trên, trước hết phải chỉnh đốn nội bộ Đảng. Phải nêu ra những việc chính, nắm lấy đó mà làm”. Nhấn mạnh đến tính liên thông, đồng bộ và sự phụ thuộc lẫn nhau, Người ví: “Một bộ máy là do nhiều thứ máy to nhỏ lắp lại. Các máy ấy đều ăn khớp với nhau, thì bộ máy ấy tốt và sản xuất nhiều. Nếu chỉ một cái máy nhỏ không ăn khớp, thì cũng ảnh hưởng xấu đến toàn cả bộ máy”. Theo Hồ Chí Minh, chỉnh đốn, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy, phải luôn luôn được đặt ra. Năm 1952, trong “Báo cáo tại Hội nghị Trung ương 3, khóa II”, Hồ Chí Minh lưu ý: Về chính quyền. Chúng ta có tiến bộ nhiều, nhưng vì chúng ta quan niệm chưa đúng tính chất và sự quan trọng của chính quyền nhân dân nên chưa thực sự kiện toàn chính quyền về mặt công tác, tổ chức, cán bộ. Và một trong các giải pháp mà Người đề ra là: Chỉnh Đảng là việc chính mà chúng ta phải làm ngay. Chỉnh Đảng phải làm từng bước và có trọng tâm: Chỉnh đốn tư tưởng trước rồi mới chỉnh đốn tổ chức. Chỉnh huấn cán bộ rồi mới chỉnh huấn toàn thể đảng viên. Chỉnh đốn cán bộ cao cấp phải do Trung ương trực tiếp lãnh đạo vì đó là mấu chốt của việc chỉnh đốn toàn Đảng. Chính nhờ đợt chỉnh Đảng, chỉnh cán, chỉnh quân những năm 1952-1953, đây là một trong những nguyên nhân tạo ra sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Chúng ta cũng cần rút ra những kinh nghiệm tốt từ những đợt chỉnh huấn này dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch.
Hai là, xây dựng phong cách, phương pháp, sửa đổi lối làm việc. Khi coi con người “là vốn quý nhất”, theo Hồ Chí Minh, gắn với đổi mới tổ chức bộ máy là đổi mới phong cách, tác phong, phương pháp, lề lối làm việc và chính phong cách, tác phong, phương pháp, lề lối làm việc của cán bộ là biểu hiện của cơ chế, các mối quan hệ trong vận hành tổ chức bộ máy. Người khái quát: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Trong lời khai mạc Hội nghị Trung ương 7 (khóa II) ngày 3-3-1955, Người nhấn mạnh đến kiện toàn bộ máy, phương pháp, lề lối làm việc để nâng cao hiệu quả công tác: “Tổ chức của Đảng cần phải kiện toàn hơn. Lề lối làm việc cần phải tiến bộ hơn”. Kiện toàn tổ chức bộ máy xét tới cùng là nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, nội bộ đoàn kết thống nhất, nâng cao năng suất, hiệu quả công tác, giúp cho bộ máy hoạt động thông suốt, nhịp nhàng. Phẩm chất, bản lĩnh và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ là nhân tố quan trọng tạo nên chất lượng tổ chức bộ máy, vì cán bộ là nhân tố quyết định, là “cái gốc của mọi công việc”. Bởi vậy, theo Hồ Chí Minh: “Kiện toàn tổ chức và lề lối làm việc; nâng cao tính tổ chức, tính kỷ luật và đạo đức cách mạng của toàn thể cán bộ và đảng viên” là hai mặt của một vấn đề đổi mới tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ “bất kỳ chỗ nào, bất kỳ việc gì, Đảng và Chính phủ đã giao thì các cô, các chú phải quyết tâm làm cho trọn, không nên muốn thế này thế khác”. Trong bài “Xin chỉ thị, gửi báo cáo”, Người đã nêu rõ vì sao trước khi làm phải xin chỉ thị của cấp trên, sau khi làm xong phải báo cáo. Thời kỳ đầu 1950, có tình trạng như vậy, cho thấy tác phong tùy tiện, cẩu thả, vô kỷ luật còn phổ biến trong bộ máy. Để khắc phục tình trạng này, những chỉ dẫn về nội dung, phương pháp, quy trình, trách nhiệm người viết báo cáo của Người trong bài viết còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Hồ Chí Minh căn dặn: “Không tự kiêu, không có bệnh làm “quan cách mạng”. Phải siêng năng, siêng nghĩ, siêng nghe, siêng thấy, siêng đi, siêng nói, siêng làm. Cầu tiến bộ luôn luôn. Không lúc nào không ngừng nghiên cứu, tự rèn luyện, sửa chữa khuyết điểm”. Người cũng luôn nhắc nhở: “Phải có biện pháp cho tốt, “kế hoạch một phần, biện pháp phải hai phần, và quyết tâm phải ba phần”. Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc. Công tác tư tưởng, chính trị phải kết hợp chặt chẽ với công tác kế hoạch”. Và “Kế hoạch phải thật tỷ mỷ. Hợp đồng phải thật khớp. Bí mật phải thật tuyệt đối. Hành động phải thật kiên quyết. Cán bộ phải thật gương mẫu”. Và “cán bộ chăm chỉ làm việc chưa đủ, cần phải biết làm việc cho có phương pháp. Phải cần mà phải cẩn nữa”… Đây là những chỉ dẫn rất quý báu về phương pháp, tác phong, lề lối làm việc của người cán bộ hiện nay.
Ngay từ những ngày đầu thành lập bộ máy chính quyền cách mạng, cũng như sau khi ĐCS Việt Nam ra hoạt động công khai, Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm tới vấn đề phải nâng cao đạo đức cách mạng, xây dựng phong cách, tác phong làm việc khoa học, sát dân, trọng thực tiễn, “nói đi đôi với làm”… của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Không phải ngẫu nhiên Hồ Chí Minh nói nhiều về vấn đề này. Rõ ràng trong khi tình hình cách mạng thay đổi nhanh chóng, phức tạp; bộ máy đảng, nhà nước còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, thì vấn đề quan trọng là lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên phải được coi trọng. Trong rất nhiều bài viết, thư, bài nói chuyện với cán bộ, nhân dân, như “Đời sống mới”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quyét sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Ý kiến về việc làm và xuất bản loại sách “người tốt, việc tốt””, “Di chúc”… Hồ Chí Minh đã chỉ ra một cách có hệ thống, toàn diện, cụ thể, thiết thực: từ vì sao (sự cần thiết) phải xây dựng đạo đức cách mạng, sửa đổi tác phong, lề lối làm việc đến việc chỉ ra (nhận diện) những căn bệnh cố hữu, tệ của xã hội cũ, của nền sản xuất nhỏ, của hậu quả thực dân ảnh hưởng đến đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ các giải pháp để nâng cao đạo đức cách mạng quyét sạch chủ nghĩa cá nhân, sửa đổi lối làm việc đến vai trò của tổ chức đảng, người đứng đầu và vai trò của tự tu dưỡng, tự rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Từ vai trò tự nêu gương, tiền phong, gương mẫu, chú trọng thực hành của mỗi cán bộ, đảng viên đến việc tuyên truyền, giáo dục, tổ chức nhân dân làm theo… Ví dụ, trong mục “Mấy điều kinh nghiệm” trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Người nhấn mạnh làm bất cứ việc gì đều phải nghiên cứu kinh nghiệm đến gốc, phải phân tích kỹ càng xem việc làm ấy vì sao đưa đến thành công để học tập kinh nghiệm, để đặt ra khuôn phép cho những công việc khác, để nhân rộng cái tốt, cái hay. Nếu không nghiên cứu, phân tích thì việc nào xong việc ấy, cán bộ không học được kinh nghiệm gì và cũng không thể tiến bộ được.
Những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về tinh giản biên chế, kiện toàn tổ chức bộ máy gắn với sửa đổi phong cách, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên là những định hướng, cơ sở phương pháp luận để Đảng ta củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ hiện nay./.
      

                          Chu Tuấn

Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2018


Rèn luyện đạo đức cách mạng gắn với học tập lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin.
          Hồ Chí Minh chỉ rõ những biểu hiện cơ bản của đạo đức cách mạng, mà CB, ĐV phải ra sức phấn đấu, rèn luyện, đó là: “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”.
          Người yêu cầu Đảng phải quan tâm giáo dục, rèn luyện CB, ĐV để xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, vì theo Người: “Cán bộ quyết định mọi việc... Công việc thành hay là bại một phần lớn là do nơi tư tưởng đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của các đồng chí”. Để có được những phẩm chất đạo đức cách mạng tốt đẹp đó, cần phải học tập lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhiều lần Người đề cập tới việc giáo dục lý luận chính trị cho CB, ĐV: “Đảng ta tổ chức trường học lý luận cho cán bộ là để nâng cao trình độ lý luận của Đảng ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng ta có thể làm tốt hơn công tác của mình, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình”.
                   Chu Tuấn

Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2018

Quan điểm của Đảng về phát huy nhân tố con người trong phát triển đất nước


Trong thời đại ngày nay, nguồn tài nguyên, của cải đích thực và quý giá nhất của mỗi quốc gia chính là con người. Vì vậy, mục đích phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, xét đến cùng, phải vì con người, cho con người, tạo môi trường thuận lợi để con người có cuộc sống hạnh phúc, có sức khoẻ và có cơ hội phát huy mọi năng lực sáng tạo. Nhận thức được điều đó, trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định vai trò đặc biệt của nhân tố con người với tính cách là động lực của sự phát triển xã hội, của sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa.
Xuất phát từ quan điểm mác-xít về con người cho thấy, khi con người là một thực thể tự nhiên - xã hội, con người nói chung biểu hiện ra trên nhiều phương diện. Chẳng hạn, con người tồn tại với tư cách là một nguồn tài nguyên đặc biệt - tài nguyên con người; con người tồn tại với tư cách là một nguồn lực đặc biệt hay nguồn lực con người, hoặc tồn tại với tư cách là một nhân tố thúc đẩy đời sống kinh tế - xã hội gọi là nhân tố con người… Bởi vậy, khái niệm nhân tố con người là sự tiếp tục triển khai quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người.
Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong tiến trình xây dựng xã hội mới, Đảng ta đã khẳng định: nguồn lực quý báu nhất, có vai trò quyết định nhất là con người Việt Nam; nhân tố con người chính là nguồn sức mạnh nội sinh của dân tộc Việt Nam. Đối với một nước chủ động lựa chọn và kiên trì con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, sự phát triển, tăng trưởng kinh tế, xét đến cùng cũng là vì con người, hướng đến con người. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, Đảng ta xác định một trong những yếu tố quyết định việc chúng ta có tranh thủ tận dụng thành công những thuận lợi, cơ hội và vượt qua thách thức, khó khăn mà quá trình đó đặt ra hay không phụ thuộc đáng kể vào con người.
Từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chú trọng đến quyền làm chủ của nhân dân lao động “thực chất là tôn trọng con người, phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp nhân dân, hướng sự sáng tạo đó vào sự nghiệp xây dựng xã hội mới”. Với quan điểm này, mọi chủ trương, chính sách của Đảng đều chú trọng đến việc chăm lo bồi dưỡng phát huy nhân tố con người.
Vấn đề con người được đề cập đầu tiên tại Đại hội lần thứ IV của Đảng và được đề cập cụ thể, trực tiếp trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thông qua tại Đại hội VII (năm 1991). Trong Cương lĩnh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Xã hội xã hội chủ nghĩa là một xã hội con người được giải phóng, nhân dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao và nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện để phát triển cá nhân, công bằng xã hội và dân chủ được đảm bảo. Vì vậy, phương hướng, mục tiêu lớn của chính sách xã hội được đề cập trong Cương lĩnh, Đảng ta chỉ rõ: “Phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội”.
Quan điểm này của Đảng được xây dựng trên những cơ sở khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm lịch sử cụ thể của đất nước. Do đó, Đảng ta khẳng định phải kết hợp tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện các chính sách xã hội nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà trong xã hội, trong đó con người được đặt vào vị trí trung tâm. 
Đại hội toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta xác định đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người - động lực trực tiếp của sự phát triển. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khoá VII, Đảng ta nhấn mạnh: “Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta… Chúng ta cần tìm hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn gốc của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia, phải xuất phát từ tinh thần nhân văn sâu sắc nhằm phát triển con người toàn diện, xây dựng một xã hội công bằng, nhân ái, thiết lập quan hệ thật sự tốt đẹp và tiến bộ giữa con người với con người trong sản xuất và trong đời sống”.
Như vậy, những nội dung trong quan điểm này xét đến cùng là vì cuộc sống hạnh phúc của mỗi con người mà Đảng ta luôn quan tâm, là sự thể hiện tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh trong hiện thực cuộc sống.
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, trong bối cảnh đất nước chuyển sang thời kỳ phát triển mới, với những thành tựu to lớn của hơn 10 năm đổi mới đã đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo điều kiện và tiền đề cần thiết để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tư tưởng chủ đạo của chiến lược con người là thực hiện “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Vấn đề con người và chiến lược con người đã được Đại hội cụ thể hoá thành các quốc sách lớn thích ứng với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đó là các chính sách nhằm phát huy nguồn lực con người và thực hiện công bằng xã hội. Mục đích cao nhất của hệ thống chính sách này nhằm phát triển trí tuệ của người Việt Nam, nguồn vốn quyết định nhất, quý giá nhất của chúng ta trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong khi công cuộc đổi mới đất nước đang đi dần vào chiều sâu và phải giải quyết những nhiệm vụ hết sức phức tạp thì Đảng ta chủ trương bằng mọi giá phải “Khơi dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt Nam, quyết tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng khoa học và công nghệ”. Đồng thời, Đảng ta đã khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển. Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng là “lấy việc phát huy nhân tố con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
Nhất quán tư tưởng chiến lược phát triển con người trong thời kỳ đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: Xã hội ta là xã hội vì con người và coi con người luôn giữ vị trí trung tâm của sự phát triển kinh tế xã hội. Con người trước hết là tiềm năng trí tuệ, tinh thần, đạo đức, là nhân tố quyết định là vốn quý nhất của chúng ta trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Quan điểm đó được thực hiện ở chủ trương “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: chiến lược con người phải nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mọi chủ trương, chính sách nhằm phát huy nhân tố con người đều xuất phát từ quan điểm cho rằng nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ nhân thực sự của xã hội, là chủ thể của mọi hành động kinh tế, văn hoá xã hội và mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng là phục vụ nhân dân.
Có thể nói, Đại hội lần này đã thể hiện tư duy đổi mới, khoa học của Đảng trong điều kiện lịch sử mới của đất nước. Một mặt, quan điểm đó phù hợp với quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội; mặt khác phù hợp với nguyện vọng chân chính của nhân dân cũng như bản chất nhân văn, tính ưu việt của chế độ xã hội mà chúng ta phấn đấu xây dựng.
 Thực tiễn cho thấy, việc giải quyết vấn đề phát triển con người Việt Nam những năm qua được đánh giá có nhiều chuyển biến tích cực và đạt kết quả quan trọng. Quá trình cách mạng Việt Nam chứng tỏ rằng trong những thời điểm lịch sử hiểm nghèo, những tình thế hết sức khó khăn, con người Việt Nam đều rất sáng tạo, năng động và luôn tìm ra những lối thoát, những đường hướng đi lên làm kinh ngạc cả bạn bè quốc tế. Lịch sử cũng chứng minh: thời kỳ nào cách mạng biết phát huy mạnh mẽ nhân tố con người, tạo mọi điều kiện cho hoạt động sáng tạo của con người thì con người Việt Nam luôn biết "chuyển bại thành thắng", chuyển từ tình thế khó khăn thành lợi thế trong đó con người là động lực trung tâm. Do đó, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 - 2006), Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Con người là vốn quý nhất, phát triển con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới đất nước; gắn vấn đề nhân tố con người với tinh thần nhân văn nhằm tạo điều kiện cho con người phát triển toàn diện, sống trong một xã hội công bằng và nhân ái, với những quan hệ xã hội lành mạnh. Con người và sự phát triển con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, mở rộng cơ hội, nâng cao điều kiện cho con người phát triển”.
Hiện nay, việc xây dựng con người Việt Nam theo quan điểm của Đảng, là sự chuẩn bị tích cực, chủ động nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cho tương lai và triển vọng của đất nước trên con đường phát triển theo mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hoá, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế không thể không dựa vào nhân tố con người, vì vậy cần phải bồi dưỡng, phát triển con người Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực, nhân tố con người. Xây dựng con người Việt Nam chính là xây dựng nhân cách của con người với nội dung toàn diện, từ bồi dưỡng và phát triển thể lực, năng lực, trí tuệ với phương pháp tư duy khoa học sáng tạo. Xây dựng con người Việt Nam hướng tới sự phát triển không chỉ chất lượng cá thể con người mà còn là sự phát triển của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Kế thừa quan điểm về phát huy nhân tố con người từ các đại hội trước, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015, Đảng ta xác định: tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển; tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ mục tiêu tổng quát là: “Đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Để đạt được mục tiêu đó Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong đó “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” được khẳng định là khâu đột phá thứ hai. Đây được xem là khâu đột phá phù hợp với hoàn cảnh nguồn nhân lực của đất nước trong bối cảnh Việt Nam tích cực, chủ động tham gia hội nhập quốc tế, với sự cạnh tranh diễn ra vô cùng quyết liệt và cuộc cách mạng khoa học, công nghệ.
 Đó vừa là cơ hội, vừa là thách thức đòi hỏi nước ta phải nâng cao chất lượng nguồn lực con người. Đại hội XI đưa ra quan điểm phát huy nhân tố con người ở nhiều chiều trên cơ sở “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển”. Quan điểm này thực chất là sự tiếp nối tư tưởng của Đảng coi con người là chủ thể, là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển xã hội và là sự nghiệp của cách mạng Việt Nam. Đặc biệt Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước được tiếp tục khẳng định việc: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh nhân tố con người gắn với xây dựng văn hoá làm nền tảng tinh thần với hàm ý văn hoá và con người là cặp đôi biện chứng, trong đó con người là chủ thể sáng tạo văn hoá và thụ hưởng các giá trị, sản phẩm văn hoá. Yếu tố con người được đề cập là những con người rất cụ thể, con người phải có nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực, kỹ năng, trách nhiệm xã hội,… việc xây dựng con người phải thông qua hoạt động thực tiễn, cụ thể của từng người, chứ không nói chung chung. Đồng thời chỉ rõ nhiệm vụ cụ thể là: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”. Đảng ta khẳng định: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật”. Đây là quan điểm mà Đảng ta luôn nhất quán, mang tính định hướng chiến lược trong xây dựng, phát triển con người Việt Nam.
Để phát triển toàn diện con người, mọi hoạt động của hệ thống giáo dục và đào tạo cần phải hướng vào việc xây dựng, phát triển con người Việt Nam có thế giới quan khoa học, trí tuệ và đạo đức; gắn với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, nâng cao trí lực và kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập, của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam. Đảng ta cũng khẳng định muốn phát huy nhân tố con người cần phải biết đấu tranh chống lại sự suy thoái, xuống cấp về đạo đức về con người có thể phát triển một cách toàn diện: “Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam”.
Với những quan điểm của Đảng ta về phát huy nhân tố con người trong suốt chặng đường phát triển đất nước đã phát huy hiệu quả và đạt được nhiều thành tựu to lớn: Trình độ dân trí ngày càng cao, kinh tế cũng ngày càng khởi sắc và trên đà phát triển ổn định, đời sống của người dân được cải biến rõ nét, con người được tạo điều kiện phát triển toàn diện, nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Điều này một lần nữa khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và thể hiện sự quan tâm, coi con người là vốn quý nhất; chăm lo cho hạnh phúc của con người là tư tưởng xuyên suốt trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng, là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta./.

                     Chu Tuấn

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

Cảnh giác với những mưu mô làm suy giảm uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tung nhiều thông tin xấu độc bôi nhọ, xuyên tạc về Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam và hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ nhằm làm suy giảm uy tín, hình ảnh của Quân đội ta, từ đó tác động tiêu cực đến niềm tin của nhân dân đối với quân đội. Trước những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm này, chúng ta càng phải kiên trì giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng và bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ của dân, do dân, vì dân.
Lộ rõ ý đồ “bám lâu, ngoáy sâu” vào một vài bất cập để bôi nhọ hình ảnh quân đội
Những ngày gần đây, sắp đến dịp kỷ niệm 74 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam và 29 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12), trên một số trang mạng tái xuất hiện những hình ảnh liên quan đến sai sót về lễ tiết, tác phong, hành vi ứng xử của số ít quân nhân. Động thái này không ngoài ý đồ làm cho cư dân mạng và người dân có cái nhìn thiếu thiện cảm về bộ đội.
Theo thống kê của cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, đến nay đã phát hiện hơn 300 trang báo điện tử, trang mạng xã hội (MXH) mà các thế lực phản động thường xuyên đăng thông tin chống phá Đảng, Nhà nước và quân đội, công an. Chỉ tính trong 3 tháng gần đây (từ tháng 9 đến 11-2018) đã xuất hiện hơn 8.500 thông tin xấu độc về lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trong đó gần 50% là thông tin trên MXH. Những người tự xưng là “nhà báo công dân”, “phóng viên không biên giới” đều có mưu toan “bám lâu, ngoáy sâu” vào một vài hiện tượng bất cập nảy sinh trong hoạt động quân sự, quốc phòng để cố tình nghiêm trọng hóa vấn đề, qua đó nhằm gây nhiễu thông tin dư luận. Ý đồ của họ là lợi dụng triệt để mặt trái của công nghệ truyền thông và MXH để viết bài, thông tin tiêu cực, tán phát tài liệu sai trái về quân đội, từ đó tác động, thẩm thấu vào nhận thức, tình cảm, niềm tin của cán bộ, chiến sĩ, gây hoài nghi về chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước, qua đó làm cho bộ đội dễ dao động, phân tâm về tư tưởng, giảm sút ý chí, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Ví như, nhân việc hai nhà trường quân sự trả về địa phương hai thí sinh do chưa đủ điều kiện, tiêu chuẩn sức khỏe phục vụ lâu dài trong quân đội, họ lớn tiếng phê phán đó là “việc làm vô tâm, bất nghĩa” (!). Lợi dụng vụ va chạm giao thông giữa một quân nhân với người dân, họ cố tình dựng chuyện với những câu từ hằn học, như: “Sĩ quan quân đội hỗn chiến với người dân trên đường”; “Một sĩ quan quân đội đánh lộn với dân” (!). Lợi dụng sự bất cập trong quản lý đất quốc phòng ở một số đơn vị, họ coi nguyên nhân sâu xa của vấn đề này là “do một đảng toàn trị, độc tài lãnh đạo quân đội nên quân đội được đặc quyền đặc lợi mà không ai kiểm soát” (!). Từ vụ việc hai quân nhân đã phục viên, ra quân do thoái hóa, biến chất rồi a dua với một số trí thức, văn nghệ sĩ cực đoan tham gia cái gọi là “phong trào từ bỏ đảng”, họ cố tình xuyên tạc rằng “phong trào bỏ đảng trong quân đội đang có dấu hiệu lan rộng” (!)…
Thật không khó để nhận diện các chiêu trò của những kẻ chống phá, cơ hội bày tỏ thái độ quy chụp, vu khống, ít xít ra nhiều, bé xé ra to, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, thậm chí đổi trắng thay đen hòng thực hiện âm mưu thâm độc là bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, từ đó làm suy giảm uy tín của quân đội. Uy tín, sức mạnh quân đội bắt nguồn từ yếu tố kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh. QĐND Việt Nam đã trải qua 74 năm xây dựng, chiến đấu và không ngừng trưởng thành, lớn mạnh. Sức mạnh của Quân đội ta không chỉ thể hiện sâu sắc ở mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân, mà còn thể hiện ở bản chất là một quân đội của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bên cạnh đó, uy tín, sức mạnh của quân đội còn xuất phát từ yếu tố kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đòi hỏi mọi quân nhân phải tự giác tuân thủ triệt để, chấp hành đến nơi đến chốn.
Quân đội là một lực lượng trong xã hội và chịu sự tác động, ảnh hưởng từ môi trường xã hội. Nhận thức sâu sắc điều đó, những năm qua, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội luôn quan tâm giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, giáo dục tư tưởng chính trị, giáo dục pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội cho mọi quân nhân; đồng thời chú trọng công tác quản lý, duy trì chặt chẽ, nghiêm túc điều lệnh, điều lệ, quy định, kỷ luật quân đội nhằm không ngừng củng cố, tăng cường sự thống nhất về ý chí và hành động cho cán bộ, chiến sĩ toàn quân, qua đó xây dựng đội ngũ quân nhân cách mạng giàu lòng yêu nước, trung thành, kiên định, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.
Được bồi đắp, giáo dục truyền thống vẻ vang của quân đội, tình cảm cách mạng trong sáng, lý tưởng cao đẹp và được tôi luyện trong môi trường quân sự chặt chẽ về kỷ luật, thân thiện về tình đồng chí, đồng đội, lành mạnh về văn hóa, tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ đã đề cao ý chí trách nhiệm, ý thức kỷ luật nghiêm minh, sẵn sàng nhận và thực hiện tốt chức trách, cương vị được giao. “Ở đâu gặp khó, ở đó có mặt bộ đội kịp thời”, “Nơi nào gian khổ, nơi đó có bộ đội xung kích đi đầu”, “Nghiêm minh như kỷ luật quân đội”… Đó không chỉ là phương châm hành động của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, mà từ lâu đã trở thành niềm tin sâu sắc của các tầng lớp nhân dân dành cho quân đội. Phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ là một trong những giá trị đạo đức văn hóa tiêu biểu, mẫu mực của con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Điều này được các nhà nghiên cứu, nhà khoa học và nhân dân ta thừa nhận, khẳng định. Thế nên, một số ít quân nhân nào đó vi phạm kỷ luật quân đội, sai sót về lễ tiết, tác phong, giao tiếp ứng xử hay có thái độ, hành vi chưa chuẩn mực như văn hóa quân sự đòi hỏi thì đó chỉ là hiện tượng cá biệt.
Tuy vậy, nói thế không có nghĩa là quân đội coi nhẹ, làm ngơ trước các sai phạm của một số quân nhân như có kẻ từng rêu rao trên MXH. Ngược lại, những trường hợp quân nhân vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội đều được cơ quan có thẩm quyền và cấp ủy, chỉ huy đơn vị liên quan phát hiện, xử lý kịp thời, đúng người, đúng lỗi sai phạm. Cách đây ít ngày, Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương đã xem xét và đề nghị thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về Đảng đối với một tổ chức đảng và kỷ luật bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng đối với 3 đảng viên, cảnh cáo về Đảng đối với 5 đảng viên; đồng thời đề nghị thi hành kỷ luật quân đội đối với 11 quân nhân, trong đó tước danh hiệu quân nhân đối với 5 người, cách chức, giáng cấp bậc quân hàm đối với một người, cảnh cáo đối với 5 người. Nhắc lại điều đó để thấy, với phương châm kỷ luật không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất cứ ai ở cương vị nào khi có sai phạm, khuyết điểm đều phải xử lý kịp thời, chính xác, công minh, Quân đội ta không bao giờ xem nhẹ hay “dung dưỡng” bất cứ trường hợp quân nhân nào có thái độ, hành vi gây phương hại đến bản chất truyền thống, ý chí thống nhất và sức mạnh kỷ luật của một quân đội cách mạng đã được tôi rèn, hun đúc, giữ gìn bền bỉ suốt hơn bảy thập niên qua.
Được ví như “một xã hội thu nhỏ”, QĐND Việt Nam có nhiều lực lượng, tổ chức, cơ quan, đơn vị, thành phần… hoạt động ở nhiều lĩnh vực, ngành, nghề trên khắp mọi miền Tổ quốc. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, “năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài”, trong một xã hội nói chung, một tập thể nói riêng cũng có “người thế này thế khác”, vấn đề là ở chỗ chúng ta phải khơi dậy, phát huy được cái tốt, cái hay, cái đẹp của mỗi người, đồng thời hạn chế, giảm được những khuyết điểm còn tồn tại trong mỗi con người. Thấm nhuần quan điểm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những năm qua, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã kiên trì, nỗ lực nuôi dưỡng, vun đắp những giá trị truyền thống tích cực, tốt đẹp của dân tộc và QĐND Việt Nam cho mọi cán bộ, chiến sĩ; đồng thời thường xuyên bồi đắp, giáo dục mọi cán bộ, chiến sĩ tự giác tuân thủ, chấp hành nghiêm điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định, kỷ luật quân đội, qua đó không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần cùng nhân dân cả nước thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

                  Chu Tuấn

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2018

Những giá trị không thể phủ nhận


Năm 2018, năm bản lề của việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng sắp đi qua, đánh dấu những thắng lợi quan trọng của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của đất nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước.
Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đều hoàn thành và vượt mức đề ra. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện. Văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh, phúc lợi xã hội được quan tâm chăm lo, bảo đảm đời sống nhân dân không ngừng được nâng cao. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh và đạt được những kết quả tích cực. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, tăng cường. Công tác đối ngoại ngày càng được mở rộng, đi vào chiều sâu.
Trong bối cảnh thế giới đầy biến động với không ít phức tạp, Việt Nam tiếp tục là điểm sáng về sự ổn định, an toàn, an ninh, là đối tác tin cậy của bạn bè quốc tế, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: “đất nước ta chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như hiện nay trên trường quốc tế”. Với những kết quả to lớn đã đạt được của năm 2018, trong năm mới 2019, công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước nhất định sẽ tiếp tục đạt được những thành quả quan trọng, rực rỡ hơn.
Hòa chung niềm vui của quân và dân cả nước, lực lượng CAND phấn khởi, tự hào có những đóng góp quan trọng. Điều ấy đã được đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng mới đây thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, biểu dương đánh giá cao.
Đi ngược lại với niềm vui chung của đất nước, với bản chất cố hữu, mục tiêu không thay đổi, thể hiện cái nhìn tiêu cực và đầy định kiến, vẫn có những tiếng nói lạc lõng cất lên phủ nhận những thành tựu mà đất nước, nhân dân ta đã đạt được, phủ nhận tính cách mạng, khoa học, chân chính của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bôi lem, nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động hòng gây chia rẽ giữa Đảng với dân, kích động một bộ phận quần chúng nhân dân thiếu hiểu biết gây rối an ninh, trật tự…
Đối với lực lượng vũ trang nhân dân, vì biết rằng, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, là “thanh kiếm” và “lá chắn” để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, vì bình yên, hạnh phúc của nhân dân, để chống Đảng, Nhà nước, chống lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, các đối tượng này xác định trong chiến lược: “Diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, một trong những đối tượng cần phải chống phá trước hết đó chính là lực lượng vũ trang nhân dân.
Điều đó đã lý giải vì sao trong thời gian gần đây, lợi dụng một số vụ án, vụ việc liên quan tới một vài cán bộ, chiến sĩ CAND vi phạm pháp luật, các thế lực thù địch, phản động ra sức kích động từ nhiều hướng, bằng các thủ đoạn nham hiểm hòng gây phân tâm trong nội bộ, hạ uy tín của lực lượng CAND, gây chia rẽ giữa CAND với nhân dân, giữa CAND với QĐND và nhiều những chiêu trò, thủ đoạn hèn hạ khác.
Sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch, phản động không ngăn cản được bước phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam với ánh sáng soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt, bản lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam đi đến bến bờ vinh quang, không làm mất đi niềm tin yêu của nhân dân với Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam anh hùng.
Sự chống phá ấy càng làm cho lực lượng CAND nhận thức sâu sắc hơn về yêu cầu “tự bảo vệ”, “giữ vững bên trong là chính”, xây dựng lực lượng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đội ngũ của những người “chỉ biết còn Đảng thì còn mình”, của những người mà "Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất"!
Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm luôn là mặt trận cam go, quyết liệt với biết bao những hy sinh, gian khổ, có thể gọi tên nhưng cũng có thể thật lặng thầm. Tiếp nối truyền thống của lực lượng CAND Việt Nam, của các thế hệ cha anh đi trước, với tinh thần “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, được sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ của Quân đội nhân dân, các ban, bộ, ngành và cấp ủy, chính quyền các cấp, sự cổ vũ, động viên, giúp đỡ to lớn của nhân dân, lực lượng CAND và mỗi cán bộ, chiến sĩ nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự trong mọi tình huống, vì bình yên cuộc sống, vì hạnh phúc của nhân dân./.


Chu Tuấn

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018



“Phủ bụi” vào lịch sử là mắc trọng tội với thế hệ cha ông
Khi nói về lịch sử, đại văn hào người Pháp Victor Hugo từng khẳng định: Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là ánh phản chiếu của tương lai trên quá khứ.
Để tiếng vọng đó có ý nghĩa, giá trị với hiện tại và tương lai, đòi hòi thế hệ đi sau không chỉ có thái độ chuẩn mực, phương pháp khoa học khi nhận định, đánh giá về các sự kiện, vấn đề của lịch sử, mà cần có ý thức thận trọng khi phát ngôn, diễn giải về lịch sử.
11 giờ 30 ngày 30-4-1975, xe tăng quân giải phóng đã tiến qua cổng sắt đánh chiếm Dinh Tổng thống Ngụy quyền Sài Gòn, sào huyệt cuối cùng của địch.
Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai. Do vậy, khi nhìn nhận về các sự kiện, vấn đề lịch sử trước hết cần phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử. Điều hiển nhiên này tưởng như ai cũng biết, nhưng thực tế không phải ai cũng quan niệm, ứng xử một cách chừng mực, đúng đắn. Có người do thiếu kiến thức lịch sử, chưa nghiên cứu thấu đáo những sự kiện đã diễn ra trong quá khứ nên khi xem xét về lịch sử còn hời hợt, phiến diện. Nhưng cũng có người do thiếu nhãn quan chính trị chuẩn mực nên có những phát ngôn chưa đúng về lịch sử, thậm chí nhìn nhận lịch sử bằng con mắt hẹp hòi, đánh giá lịch sử bằng thái độ bôi nhọ, xuyên tạc. Đây là một trong những biểu hiện suy thoái nghiêm trọng về chính trị tư tưởng mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra.
Thời gian qua, không khó để nhận diện những thái độ hạ thấp, “phủ bụi” vào lịch sử. Ví như có người ngộ nhận khi cho rằng, “Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam chỉ cần “trung với nước, hiếu với dân” là đủ, là đúng với tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra"(!). Vì khi đưa ra lý do này, họ viện cớ rằng, 6 chữ “trung với nước, hiếu với dân” thêu trên lá cờ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng cán bộ, giáo viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) trong ngày khai giảng khóa I (26-5-1946) cũng là lời Bác nhắc nhở quân đội nói chung”. Nhưng có một sự thật lịch sử cần phải nhắc lại, đó là trong dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam 22-12-1964, Bác Hồ đã khẳng định: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.
Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Vì vậy, trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân không chỉ thể hiện, phản ánh bản chất sự thật lịch sử ra đời, trưởng thành, phát triển của QĐND Việt Nam, mà còn là một trong những cội nguồn và động lực lịch sử làm nên những chiến công hiển hách của Quân đội ta, một quân đội cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện.
Cách đây chưa lâu, dư luận từng xôn xao trước việc một số nhà nghiên cứu từng đề xuất bỏ cách gọi “ngụy quân”, “ngụy quyền” của chế độ Việt Nam cộng hòa. Nhân cơ hội đó, một số người a dua cho rằng, “việc công nhận Việt Nam cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng nhằm hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh”(!). Nhìn nhận như vậy là chưa khách quan, chưa đúng với sự thật lịch sử. Vì thực tế, “ngụy quân”, “ngụy quyền” tuy vẫn mang dòng máu đỏ da vàng của người Việt, song lực lượng và chế độ này ra đời không đại diện cho tinh thần dân tộc chân chính, đi ngược lại lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam và đó chỉ là lực lượng tay sai, chế độ bù nhìn cho các thế lực ngoại bang xâm lược, giày xéo giang sơn bờ cõi Việt. Do không mang tính chính danh nên họ không đủ tư cách để đứng ngang hàng với QĐND Việt Nam và chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-một quân đội cách mạng và một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đó là một sự thật lịch sử không thể xuyên tạc.
Chiến tranh là nỗi ám ảnh ghê ghớm nhất của con người. Dân tộc Việt Nam luôn mang khát vọng “đời ta thích hoa hồng”, nhưng “kẻ thù buộc ta ôm cây súng”. Lấy chiến tranh chính nghĩa để kiên quyết chống lại chiến tranh phi nghĩa là đòi hỏi tất yếu của lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ 20. Tuy vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, Đảng, Nhà nước ta chủ trương “gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tích cực thu hẹp bất đồng, tăng cường đối thoại và mở rộng vòng tay chào đón những người từng ở “phía bên kia chiến tuyến” hướng về Tổ quốc, qua đó nhằm củng cố, phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã lùi xa hơn 42 năm. Chúng ta không bao giờ có ý khoét sâu vào nỗi đau của các thân nhân có con em hy sinh, tử nạn trong cuộc chiến tranh này, nhưng nói thế không đồng nghĩa với việc xóa nhòa sự thật lịch sử của cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam. Vì từng có ý kiến cho rằng, “chiến tranh đã thuộc về quá khứ thì cho nó nằm yên một chỗ, không nên khơi gợi lại làm gì vì làm như vậy dễ tổn thương đến những người tham gia cuộc chiến, gây bất lợi cho vấn đề hòa giải dân tộc trong tình hình hiện nay”(!). Ý kiến này mới thoạt nghe tưởng như không có gì đáng nói, nhưng thực chất đây là sự xuyên tạc bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc; đánh đồng đối tượng tham gia cuộc chiến. Bởi sự thật lịch sử đã chứng minh rằng, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đại diện cho lực lượng yêu nước tiến bộ, yêu hòa bình của dân tộc Việt Nam nên đã chiến đấu anh dũng, quật cường để mang lại thống nhất, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân; còn Quân lực Việt Nam cộng hòa chỉ là lực lượng tay sai, là “lính đánh thuê” cho một thể chế chính trị không có chính danh, không được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Vì vậy, sự thất bại, sụp đổ của lực lượng, chế độ mang bản chất “ngụy” ấy là tất yếu khách quan và là sự thật lịch sử không thể chối cãi.
Khi muốn xem xét, đánh giá những sự kiện, vấn đề diễn ra trong quá khứ, nhất là những sự kiện, vấn đề ấy liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc, liên quan đến lịch sử chiến đấu đau thương mà hào hùng của cả một quân đội cách mạng và một cộng đồng dân tộc vì phẩm giá, lương tâm của thời đại thì không được phép hời hợt, phiến diện, lại càng không được phép đánh tráo khái niệm theo kiểu “mập mờ đánh lận con đen”.
Những trang sử vẻ vang về QĐND Việt Nam, về dân tộc Việt Nam anh hùng trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc sẽ mãi đồng hành, trường tồn cùng lịch sử nước ta. Bởi đó là những trang sử được viết nên bởi những tấm lòng trung kiên, cao thượng của cả một thế hệ cha ông đã tự nguyện cống hiến, xả thân hết mình vì hòa bình, độc lập, tự do cho Tổ quốc. Nên nhớ rằng, để non sông nước Việt nối liền một dải như hôm nay, để hơn 93 triệu người dân Việt đang hưởng cuộc sống bình yên như hôm nay, đã có gần 1,2 triệu người con ưu tú của Tổ quốc mãi mãi không trở về, gần 825.000 người đã để lại một phần máu thịt của mình trên chiến trường. Đó là chưa kể hơn 312.000 bộ đội, người tham gia kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hóa học mà đến nay không chỉ bản thân họ, mà nhiều con cháu họ vẫn còn chịu đựng bao nỗi đau dai dẳng từ cuộc chiến tranh phi nghĩa do đế quốc Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền gây ra. Đó cũng là một sự thật lịch sử không được phép lãng quên.   
Trong đạo lý truyền thống người Việt, bất hiếu với cha mẹ là tội lỗi nặng nhất; vong ân bội nghĩa với thế hệ tiền nhân đã vun đắp, tạo dựng cho cuộc sống hiện tại của mình là “cạn tàu ráo máng”; vô ơn với tổ tiên, cội nguồn là kẻ chẳng ra gì, nếu không muốn nói là hèn mạt, đê tiện. Thế nên, với ai đó còn có biểu hiện quay lưng lại quá khứ, phủ nhận lịch sử, xuyên tạc thành quả cách mạng giải phóng dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của hàng triệu con người, không chỉ đi ngược lại với số đông, làm tổn thương đến chiều hướng phát triển chân chính của lịch sử; mà còn làm vẩn đục những giá trị cao đẹp của lịch sử Việt Nam. Như một nhà sử học đã ví von hình ảnh mà rất chí lý rằng: Khi ai đó cố tình lãng quên quá khứ, “phủ bụi” vào lịch sử, tự họ đang bôi nhọ vào chính gương mặt người đã sinh ra mình.

         Chu Tuấn

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018


Quá trình hình thành và phát triển của Quân đội Nhân dân Việt Nam

 Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1944 theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh.
Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (Tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) thành lập ngày 22/12/1944.
Khi mới thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chỉ có 34 cán bộ, chiến sĩ nhưng đã sớm phát huy được truyền thống chống ngoại xâm và nghệ thuật quân sự lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn của dân tộc. Ngay từ lần đầu ra quân, đội quân chính quy đầu tiên của Việt Nam đã lập nên những chiến công vang dội, giải phóng những khu vực rộng lớn làm căn cứ cho các hoạt động đấu tranh giành độc lập, mở đầu truyền thống quyết chiến quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này. Ngày 15 tháng 5 năm 1945, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sáp nhập với lực lượng Cứu quốc quân và đổi tên thành Giải phóng quân, trở thành lực lượng quân sự chủ yếu của Mặt trận Việt Minh khi tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Lá cờ Quyết chiến Quyết thắng tung bay trong chiến dịch Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954.
Thời gian từ năm 1945 đến năm 1954 là thời kỳ phát triển vượt bậc cả về số lượng và khả năng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chỉ một thời gian ngắn, từ khi đất nước giành được độc lập đến tháng 11 năm 1945, Giải phóng quân đã phát triển từ một đội quân nhỏ trở thành Quân đội Quốc gia Việt Nam với quân số khoảng 50.000 người, tổ chức thành 40 chi đội. Năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam. Cũng thời gian này, các đại đoàn (đơn vị tương đương sư đoàn) chủ lực quan trọng như các đại đoàn 308, 304, 312, 320, 316, 325, 351 lần lượt được thành lập, đến nay vẫn là những đơn vị chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một đội quân chỉ vài trăm người khi tham gia Tổng khởi nghĩa, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển thành quân đội với các sư đoàn chủ lực mạnh, lập nên những chiến công lẫy lừng mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử ngày 07 tháng 05 năm 1954, đập tan mưu toan thiết lập lại chế độ thuộc địa của thực dân Pháp.
Sau khi Hiệp định Giơnevơ năm 1954 được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Nhân dân Việt Nam đứng trước hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước. Nhiệm vụ của quân đội thời kỳ này là vừa xây dựng chính quy, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa vừa tham gia đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 15 tháng 02 năm 1961, Quân Giải phóng miền Nam, lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên cơ sở thống nhất lực lượng vũ trang tại chỗ và lực lượng tăng viện từ miền Bắc. Trước sự can thiệp trực tiếp của quân đội Mỹ, Quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng với nhân dân và các lực lượng vũ trang khác, tiến hành chiến tranh toàn dân, toàn diện, lâu dài và gian khổ, lập nên những kỳ tích mà tiêu biểu là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968, chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc mà đỉnh cao là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” tháng 12 năm 1972; kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, thống nhất đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước.
Xe tăng Quân Giải phóng miền Nam tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Sau chiến thắng lịch sử năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam lại cùng với nhân dân cả nước tiến hành thắng lợi các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam vừa mới kết thúc thì chế độ diệt chủng do Pônpốt cầm đầu ở Cămpuchia đã kích động hận thù dân tộc, tiến hành chiến tranh xâm lấn ở biên giới Tây Nam của Tổ quốc. Chúng gây ra nhiều cuộc thảm sát man rợ với nhân dân Việt Nam sống dọc biên giới, đồng thời thực hiện chính sách diệt chủng đối với nhân dân Cămpuchia. Đứng trước yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, ngày 23 tháng 12 năm 1978 Quân đội nhân dân Việt Nam đã mở cuộc phản công chiến lược, đập tan cuộc tiến công của quân đội Pônpốt. Sau đó, đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của nhân dân và Mặt trận dân tộc cứu nước Cămpuchia, Quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp với các lực lượng vũ trang Cămpuchia, đánh tan 21 sư đoàn quân Pônpốt, xoá bỏ chế độ diệt chủng tàn bạo.
Quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân Campuchia xây dựng cuộc sống mới (ảnh: Tư liệu)
Bước vào thời kỳ hoà bình xây dựng đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện điều chỉnh biên chế, tổ chức, cắt giảm gần hai phần ba quân số. Các thế hệ sĩ quan, chiến sĩ quân đội vẫn kế tiếp nhau phát huy truyền thống và bản chất tốt đẹp của “Bộ đội cụ Hồ”, luôn làm đúng chức năng của một đội quân chiến đấu, một đội quân công tác, một đội quân sản xuất, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Thực hiện chức năng là một đội quân công tác, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn giữ vững mối quan hệ máu thịt với nhân dân. Là một trong các lực lượng nòng cốt tham gia công tác vận động quần chúng, các đơn vị quân đội đã tích cực thực hiện công tác dân vận. Nhiều đơn vị quân đội đã đi đầu trong phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa; tham gia công tác cứu hộ và giảm nhẹ thiên tai, phòng chống lụt, bão. Quân đội cũng tích cực tham gia xoá đói, giảm nghèo, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tình thần cho các tầng lớp nhân dân, phấn đấu đến năm 2010 hoàn thành chỉ tiêu xóa đói giảm nghèo cho 100.000 hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Quân đội tham gia mở đường Hồ Chí Minh góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệ hoá, hiện đại hoá đất nước.
Là một đội quân sản xuất, các đơn vị trong toàn quân đã tận dụng mọi tiềm năng lao động, đất đai, kỹ thuật... để đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tạo nguồn sản phẩm bổ sung tại chỗ, góp phần giữ ổn định và cải thiện đáng kể đời sống bộ đội. Các nhà máy, xí nghiệp của quân đội đã sản xuất được các loại vũ khí, khí tài phù hợp với yêu cầu tác chiến hiện đại, đáp ứng các yêu cầu sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu của quân đội. Nhiều đơn vị làm kinh tế của quân đội đã sản xuất và kinh doanh có hiệu quả, trở thành các tổ chức kinh tế lớn của đất nước, đi đầu trong kết hợp kinh tế với quốc phòng, góp phần xứng đáng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh của đất nước. Các doanh nghiệp quân đội đã tham gia nhiều dự án công trình trọng điểm của quốc gia như đường Hồ Chí Minh, đường dây 500 KV Bắc - Nam, dịch vụ dầu khí và nhiều công trình thuỷ điện lớn như Sông Đà, Drây H’ling. Hiện có 98 doanh nghiệp quân đội đang tham gia hoạt động trên nhiều lĩnh vực kinh tế như dịch vụ bay, dịch vụ cảng biển, viễn thông, công nghiệp đóng tàu... Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp này ngày một tăng.
Thực hiện chức năng cơ bản là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi quốc gia của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức theo hướng tinh gọn, được trang bị các loại vũ khí, khí tài hiện đại cần thiết, thực hiện huấn luyện thường xuyên, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam có lực lượng thường trực gồm bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương với tổng quân số khoảng 450.000 người và lực lượng quân dự bị khoảng 5 triệu người. Bộ đội chủ lực là thành phần nòng cốt của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm lực lượng cơ động của các quân đoàn, quân chủng, binh chủng, bộ đội chủ lực của quân khu và bộ đội chuyên môn kỹ thuật. Bên cạnh các đơn vị huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu còn có hệ thống hoàn chỉnh các đơn vị bảo đảm hậu cần, kỹ thuật; các học viện, viện nghiên cứu, các trường đào tạo sĩ quan và trường nghiệp vụ các cấp.

     CHU TUẤN

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với học tập và làm theo Bác trong Đảng bộ Quân đội hiện nay           Thời g...