Thứ Tư, 30 tháng 1, 2019


Giá trị phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

          Phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện đặc trưng cho mối quan hệ giữa Đảng và các tổ chức đảng; với cán bộ, đảng viên; mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân; giữa cán bộ với nhân dân. “Trên cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước, Người đã có một phong cách làm việc mẫu mực để tiến hành công tác và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết đúng đắn và thỏa đáng các mối quan hệ với quần chúng, với cấp dưới, với đại diện các tôn giáo, dân tộc,...

          Phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
          Phong cách được hiểu là vẻ riêng biệt trong làm việc, trong lối sống của con người. Phong cách mang đậm dấu ấn cá nhân. Trên cơ sở đó, GS, TS. Mạch Quang Thắng khi nghiên cứu về phong cách Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng: “Phong cách Hồ Chí Minh là những đặc điểm riêng có, cái độc đáo, có tính hệ thống, trở thành nền nếp ổn định được phản ánh trong toàn bộ cuộc sống của Hồ Chí Minh”
          GS, TS. Đặng Xuân Kỳ trong cuốn sách “Phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh” đã khái quát những nội dung chủ yếu nhất của phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là: tác phong quần chúng, tác phong tập thể - dân chủ và tác phong khoa học. Ông cũng đã có nhận định hết sức sâu sắc rằng: “Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh không phải chỉ tác động đến nhận thức mà còn cảm hóa cả trái tim con người. Qua phong cách làm việc của Hồ Chí Minh, mọi người đến với Đảng, tiếp nhận sự lãnh đạo của Đảng không phải chỉ bằng lý trí, mà còn bằng tình cảm sâu sắc của chính mình”.
          Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Hướng dẫn số 52 HD/52-BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương về “Xây dựng phong cách, tác phong công tác của người đứng đầu, của cán bộ đảng viên” là những vấn đề lý luận cấp thiết. Trong đó, việc xác định đúng giá trị của phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nội dung trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. 
          Phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - phương pháp luận chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay
          Đồng chí Phạm Văn Đồng đã đề cập và phân tích “phương pháp luận của tư tưởng Hồ Chí Minh và phong cách Hồ Chí Minh” và cho rằng, quan điểm cơ bản nhất của phương pháp luận tư tưởng Hồ Chí Minh là câu nói đanh thép của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cuốn sách Đường Kách mệnh (năm 1927): Cách mệnh! Cách mệnh! Cách mệnh! Hiểu rộng ra đó là cuộc đấu tranh kiên cường và bền bỉ nhằm xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, thiết lập chế độ không có áp bức, bóc lột. Con người, nhân dân, các dân tộc làm chủ vận mệnh của mình, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu, đem lại ánh sáng, tự do và hạnh phúc cho mọi người. Đây chính là tinh thần cách mạng triệt để và giá trị nhân văn sâu sắc trong tư tưởng, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh. Bởi, hạt nhân cốt lõi của phong cách Hồ Chí Minh nói chung và phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng chính là lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Lý luận này của Người đã trở thành đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam. Con đường ấy, một mặt vừa là thế giới quan, vừa là phương pháp luận trong quá trình Đảng ta lãnh đạo, tổ chức, điều hành và quản lý xã hội; Mặt khác, nó là phương pháp luận để Đảng ta không ngừng tự xây dựng, tự chỉnh đốn sao cho ngang tầm với những nhiệm vụ của giai đoạn lịch sử mới.
          Phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với những nội dung chủ yếu là: tác phong quần chúng, tác phong tập thể - dân chủ, tác phong khoa học đã hàm chứa những giá trị lý luận chỉ đạo cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay ở nước ta. Trong phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bao hàm các nhân tố bảo đảm cho sự vận động, phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là mệnh đề: dân - dân chủ - dân vận; phong cách làm việc của Người xuất phát từ dân, gần dân, hiểu dân, vì dân để tiến tới thực hành dân chủ cho nhân dân; muốn vậy người tổ chức, người lãnh đạo phải thực hành dân vận sao cho đúng, cho khéo, phải nêu gương cho quần chúng; phải vận động quần chúng làm cách mạng, “đem tài dân, của dân, sức dân để làm lợi cho dân”. Hiểu được vấn đề này chính là nhận thức và xác định được giá trị của phong cách dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hoạt động lãnh đạo và công tác, trong quan hệ với con người, với tổ chức. Từ đó, hình thành nên phong cách của người lãnh đạo, người đứng đầu tổ chức.
          Có thể nhận thấy, phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh chứa đựng phương pháp luận của tư tưởng và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh. Phong cách làm việc của Người được hình thành qua quá trình hoạt động thực tiễn, chứa đựng tầm nhìn sâu rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự vận động của lịch sử trong thời đại mới. Nó được bắt nguồn từ phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; phong cách ấy mang đậm hơi thở thực tiễn, có giá trị khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc. Tuy nhiên, trong phong cách làm việc của Người chứa đựng những đặc trưng mới, độc đáo, riêng có của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên cơ sở kết hợp những nguyên tắc phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với những nhân tố duy vật biện chứng của triết học phương Đông và Việt Nam để tổ chức, xây dựng và tạo lập nên những nhân tố bảo đảm cho sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
          Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chủ là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Trong bối cảnh hiện nay, để xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, Đảng phải nắm vững các nguyên tắc phương pháp luận sau: lý luận gắn liền với thực tiễn, phát hiện mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn với phương thức phù hợp, luôn hướng về nhân dân, về con người là những vấn đề cơ bản nhất trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên cả hai phương diện là con người và tổ chức để phục vụ nhân dân.
          Triết lý phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam 
          Phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu hiện đặc trưng cho mối quan hệ giữa Đảng và các tổ chức đảng; với cán bộ, đảng viên; mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân; giữa cán bộ với nhân dân. “Trên cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước, Người đã có một phong cách làm việc mẫu mực để tiến hành công tác và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, giải quyết đúng đắn và thỏa đáng các mối quan hệ với quần chúng, với cấp dưới, với đại diện các tôn giáo, dân tộc,... Người không dựa vào quyền lực để buộc mọi người phục tùng mà thuyết phục con người bằng một phong cách làm việc vừa mang tính nguyên tắc và khoa học cao, vừa có tình nhân ái bao la của một tấm lòng nhân hậu”. 
Ngay từ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khởi xướng vấn đề đổi mới cách lãnh đạo của Đảng cho phù hợp với điều kiện thực tế: “1. Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng. Mà muốn thế thì nhất định phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng. Vì dân chúng chính là những người chịu đựng cái kết quả của sự lãnh đạo của ta. 2. Phải tổ chức sự thi hành cho đúng. Mà muốn vậy, không có dân chúng giúp sức thì không xong. 3. Phải tổ chức sự kiểm soát, mà muốn kiểm soát đúng thì cũng phải có quần chúng giúp mới được”. Các chuẩn mực này tạo nên một hệ thống chặt chẽ, làm cho cách thức lãnh đạo của Đảng mang tính khoa học, khách quan, nghiêm ngặt, tránh sự tùy tiện, chủ quan.

          Dân tộc Việt Nam với những điều kiện và đặc điểm riêng có trong sự hình thành và phát triển, nước ta không trải qua hai phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và tư bản chủ nghĩa, cùng với sự phát triển nửa vời của chế độ phong kiến, sau đó ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và định hướng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa đã tạo ra trong sự phát triển của dân tộc những phương thức và triết lý mới. Sự phát triển đứt gãy, không liên tục của các hình thái kinh tế - xã hội cùng với tư duy coi trọng chữ “hòa”, chữ “đồng” trong truyền thống văn hóa - triết học phương Đông đã làm cho các tổ chức, các thiết chế lãnh đạo, điều hành và quản lý xã hội hết sức coi trọng triết lý phát triển trong giải quyết mâu thuẫn xã hội cũng như xử lý hài hòa các mối quan hệ giữa tổ chức - cộng đồng, giữa tổ chức - cá nhân, giữa lãnh tụ với quần chúng nhân dân. Ở phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tồn tại đặc điểm này và Người đã hết sức khéo léo vận dụng các nguyên tắc biện chứng duy vật mác-xít song hành với các giá trị cốt lõi của văn hóa dân tộc, đó là truyền thống “trọng dân”, “lấy dân làm gốc” trong thực hiện lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam.
          Đảng Cộng sản Việt Nam lấy phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm triết lý phát triển trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tiến hành hội nhập quốc tế sâu rộng cần đặc biệt chú trọng phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng; quán triệt các nguyên tắc xây dựng Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp với giám sát của nhân dân để “tự chỉnh đốn”, “tự đổi mới”; xây dựng văn hóa Đảng, phát huy nguồn lực trong Đảng và trong nhân dân để phát triển Đảng và phát triển xã hội.
          Xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
          Trước tiên, cần phải khẳng định, phong cách làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị to lớn trong việc xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Công tác xây dựng bắt đầu từ chủ thể là Đảng, tới các chi bộ Đảng, tới đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội II của Đảng (tháng 2-1951) Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định, học tập chủ nghĩa, dùi mài tư tưởng, nâng cao lý luận, chỉnh đốn tổ chức - là những việc cần kíp của Đảng. Có thể thấy rằng, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập đến năm 1951, khi Đảng ra hoạt động công khai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cũng tức là Người trực tiếp quan tâm đến việc xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng cho Đảng; thực chất là tăng cường bản chất giai cấp công nhân cho Đảng, cho từng chi bộ đảng và cho mỗi đảng viên để Đảng thực hiện tốt vai trò lãnh đạo với mục tiêu cuối cùng là phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Trên cơ sở quan điểm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội II của Đảng đã nhấn mạnh một vấn đề quan trọng và cần thiết: “... Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức của Hồ Chủ tịch; sự học tập ấy là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh, và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn”. Đó là sự khẳng định giá trị to lớn, sức sống, sức cảm hóa mạnh mẽ của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với sự phát triển của Đảng và dân tộc. Phong cách của Người đã trở thành một tấm gương để mỗi cán bộ, đảng viên học tập và hoàn thiện nhân cách của mình.

          Đảng Cộng sản Việt Nam trong khi tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đã từng bước nhận thức được giá trị của phong cách làm việc Hồ Chí Minh trong từng giai đoạn, từng thời kỳ và trong từng bước đi của quá trình đổi mới. Mở đầu thời kỳ đổi mới, Đại hội VI của Đảng đã nêu bốn nội dung Đảng cần đổi mới: “Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”. Vấn đề “đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác” đến Đại hội VII đã được điều chỉnh lại thành “đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách công tác”. Đại hội nhấn mạnh với tư cách là đảng cầm quyền Đảng Cộng sản Việt Nam phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn về nhiều mặt.
          Đại hội VII của Đảng chính thức đặt ra vấn đề đổi mới Đảng gắn liền với chỉnh đốn Đảng, thể hiện rõ nhất là ở Cương lĩnh, trong đó chỉ rõ: “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo”(6). Đại hội VIII của Đảng khẳng định: “Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn... đây là một quy luật phát triển của Đảng”. Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII tháng 2-1999 với Nghị quyết số 10-NQ/TW Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay đã nhận định rằng, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, về đạo đức, lối sống tạo ra nạn tham nhũng, tệ quan liêu.
Đại hội X (năm 2006) đánh giá rằng: “Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng”. Từ đó, Đại hội nhấn mạnh như một sự cảnh tỉnh trong Đảng, tương tự như Đại hội IX: “Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ”(9).
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chỉ tập trung vào ba vấn đề thực sự cấp bách, cần làm ngay, đó là: Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là ở cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân người đứng đầu cấp ủy, chính quyền và mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị. 

          Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ” và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là sự phát triển liên tục trong nhận thức của Đảng ta về giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng để đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu của thực tiễn, của nhân dân.
          Những văn kiện trên vừa là nhận thức lý luận, vừa là sự khái quát thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, vấn đề cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề quan trọng và then chốt để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; chính chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên quyết định sự trong sạch và vững mạnh của Đảng, nâng cao uy tín và sức mạnh của Đảng, khẳng định niềm tin của nhân dân với Đảng, với đường lối chính trị của Đảng.
          Trong lãnh đạo và công tác, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải học ở phong cách làm việc Hồ Chí Minh những điều cơ bản sau: Một là, học tôn trọng, lắng nghe nhân dân, có niềm tin với nhân dân, học phục vụ nhân dân, học cách thức xử lý mối quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cán bộ lãnh đạo với cán bộ, đảng viên bình thường. Hai là, học tác phong tập thể và dân chủ của Hồ Chí Minh, gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, thực hiện và phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng cũng như đối với nhân dân, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong tổ chức và hoạt động của Đảng. Ba là, học “cách làm việc có khoa học”: “Công tác phải đi sâu và thiết thực. Làm việc phải có điều tra, nghiên cứu”, nắm việc, nắm người, nắm tình hình cụ thể; làm việc có mục đích rõ ràng, thực tế; người lãnh đạo, tổ chức cần học cách nêu gương cho cấp dưới và cho nhân dân. Có như vậy, mỗi cán bộ đảng viên mới từng bước tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, không ngừng học tập, trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao năng lực phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng.
          Thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới đang bước vào giai đoạn bước ngoặt với những chuyển biến không ngừng trong quan hệ địa - chính trị - kinh tế giữa các nước và các vùng lãnh thổ. Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta cùng với những tác động mà cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 đã dẫn đến sự thay đổi trong các mối quan hệ giữa các quốc gia dân tộc nói chung và giữa các giai cấp, các thành phần trong xã hội Việt Nam nói riêng. Những thách thức của thời đại, của dân tộc một lần nữa được đặt trên vai của Đảng Cộng sản Việt Nam yêu cầu mới đó là, định hướng cho phát triển bền vững của dân tộc. Việc Đảng ta quán triệt vấn đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là để phục vụ cho mục tiêu đó./.


GHIÊM TRỊ “THAM NHŨNG VẶT”

          Tại Phiên họp thứ 15 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (PCTN) và Hội nghị tổng kết công tác ngành Nội chính Đảng năm 2018 vừa diễn ra, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đều nêu quan điểm: Việc PCTN muốn đi vào thực chất, đạt kết quả thực chất từ gốc rễ thì trước tiên phải coi trọng và quyết tâm ngăn chặn, đẩy lùi nạn tham nhũng vặt (TNV).
Đây là việc sắp tới phải tập trung làm; chọn vài vụ điển hình đưa ra xử lý nghiêm minh để cảnh báo, răn đe chứ không chỉ tập trung vào nhũng vụ án tham nhũng lớn.
          Thực tế cho thấy, TNV chính là “cha đẻ” của các vụ đại án tham nhũng và gây ra nguy hại khôn lường "tích tiểu thành đại". Mặt khác, xét về mức độ hệ lụy niềm tin thì dẫu một vụ tham nhũng gây thất thoát hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng, nhưng chưa chắc đã khác nhiều so với việc TNV vài chục triệu, thậm chí vài chục nghìn đồng. Bởi, TNV sẽ gây hại trực tiếp đến người dân, hình thành ở quần chúng những đánh giá không tốt về những đối tượng có liên quan. Lòng tin, thái độ thiện cảm của quần chúng là yếu tố quyết định sự vững bền của chế độ.
          Xác định mức độ nguy hại đặc biệt của vấn nạn này, thời gian qua, các cấp, các ngành đều có những giải pháp để phòng, chống TNV; thậm chí, Ban Nội chính Trung ương đang nghiên cứu xây dựng đề án chống TNV. Tuy nhiên, để mang lại hiệu quả thiết thực, trước mắt cần ưu tiên lựa chọn lĩnh vực nhạy cảm, nơi đang gây bức xức trong đời sống nhân dân về tình trạng TNV để xử lý quyết liệt, triệt để. Với tinh thần đó, tại hai hội nghị nói trên, nhiều đại biểu mạnh dạn “chỉ mặt, điểm tên” hàng chục lực lượng và lĩnh vực nhạy cảm về TNV. Các ý kiến cho rằng, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần giao nhiệm vụ cụ thể cho người đứng đầu để họ đề cao trách nhiệm, có giải pháp quyết liệt, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong cuộc chiến chống TNV trên từng lĩnh vực, cơ quan, đơn vị. Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp trên với cấp ủy cấp dưới cần được tăng cường; chú trọng làm nghiêm, làm mạnh ở cơ sở. Nghiêm khắc xử lý đối tượng TNV và truy cứu trách nhiệm tổ chức đảng các cấp, lãnh đạo cơ quan, địa phương, đơn vị, khi để cán bộ dưới quyền TNV.
          Tuy nhiên, để tạo nền tảng chống TNV một cách vững chắc, cả hệ thống chính trị cần tổ chức một đợt sinh hoạt sâu rộng; sớm tạo đồng thuận, thống nhất ý chí và hành động. Cùng với đó, cần sớm xóa bỏ triệt để thói quen và tâm lý xin-cho, vị tình sinh cả nể, bè cánh cục bộ địa phương... trong xã hội. Đặc biệt, cần đẩy mạnh, tăng cường việc giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng trong cuộc đấu tranh PCTN nói chung, chống TNV nói riêng. Bởi lẽ, nhân dân là đối tượng đầu tiên và trực tiếp nhất chịu hệ quả của tệ TNV, nên có đủ khả năng nhận diện, phát hiện và đấu tranh chống tệ nạn này thông qua nhiều giải pháp, cơ chế đang rộng mở, khuyến khích của Đảng, Nhà nước ta hiện nay... Mặt khác, cơ quan chức năng các cấp cũng cần sớm nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống chế tài xử lý nghiêm minh những người tiếp tay, giúp sức cho tệ nạn TNV, cốt để có lợi cho bản thân mà vi phạm pháp luật.
Chu Tuấn


Thứ Hai, 28 tháng 1, 2019


Công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục được triển khai mạnh mẽ và đạt được nhiều kết quả toàn diện

         
Sáng 21-1, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (Ban Chỉ đạo) đã tổ chức Phiên họp thứ 15 dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo, để kiểm điểm, đánh giá kết quả hoạt động năm 2018, đề ra nhiệm vụ trọng tâm năm 2019. Tại phiên họp, các thành viên Ban Chỉ đạo thống nhất đánh giá, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, nhất là năm 2018, cùng với những thành tựu chung của đất nước trên các lĩnh vực, công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục được triển khai mạnh mẽ và đạt được nhiều kết quả toàn diện.
          Hoàn thiện thể chế, pháp luật phòng chống tham nhũng
          Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật về phòng, chống tham nhũng có bước tiến mới quan trọng; từng bước hoàn thiện cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”.
          Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định để tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng chống tham nhũng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp; sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương; về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; về phân cấp quản lý cán bộ, giới thiệu, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ; về giám sát trong Đảng, xử lý, kỷ luật đảng viên vi phạm; về trách nhiệm và thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra Đảng trong công tác phòng chống tham nhũng; về bảo vệ người phát hiện, tố giác, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực...
          Quốc hội, Chính phủ xây dựng, ban hành nhiều văn bản pháp luật để hoàn thiện thể chế về kinh tế - xã hội và phòng chống tham nhũng, từng bước khắc phục những sơ hở, bất cập trong các quy định của pháp luật là nguyên nhân phát sinh tiêu cực, tham nhũng, “lợi ích nhóm”. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Quốc hội đã thông qua 45 luật, pháp lệnh, 46 nghị quyết; Chính phủ đã ban hành 511 nghị định, 413 nghị quyết, 160 quyết định, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng; nhất là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015; Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi); Luật Tố cáo (sửa đổi); Luật Báo chí (sửa đổi); Luật Tiếp cận thông tin; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; Luật Đấu giá tài sản; Luật Đấu thầu; Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp; Luật Quản lý nợ công; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước... Các cơ quan, bộ, ban, ngành, địa phương cũng đã ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện...
          Phát hiện, xử lý nghiêm các sai phạm
          Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc về tham nhũng, kinh tế đồng bộ, hiệu quả, tạo bước đột phá trong phát hiện, xử lý nghiêm sai phạm theo quy định của Đảng, Nhà nước; có sức cảnh báo, răn đe mạnh mẽ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước, khẳng định quyết tâm chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai".
          Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã mở rộng phạm vi, đối tượng kiểm tra đến cả cấp ủy cấp huyện và cơ sở. Các cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã tập trung kiểm tra, xử lý nghiêm các tổ chức Đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; xử lý nghiêm cả cán bộ đương chức và nghỉ hưu, cả cán bộ cấp cao, kỷ luật từ trên xuống dưới, kỷ luật Đảng đi trước, tạo tiền đề, mở đường cho thanh tra, điều tra, xử lý nghiêm sai phạm. Năm 2018, cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 650 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng, cố ý làm trái; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 38 cán bộ, đảng viên diện Trung ương quản lý. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 60 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.
          Ngành Thanh tra, Kiểm toán có nhiều cố gắng, quyết liệt, làm rõ nhiều sai phạm, kiến nghị, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có liên quan, thu hồi nhiều tài sản cho Nhà nước, tập trung vào các lĩnh vực có nhiều dư luận tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Năm 2018, qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính gần 108 ngàn tỷ đồng, hơn 1.000 ha đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với 2080 tập thể và nhiều cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý 101 vụ, 151 đối tượng. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính gần 319 ngàn tỷ đồng, hơn 7.200 ha đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với 5.932 tập thể và nhiều cá nhân; chuyển cơ quan điều tra xử lý 311 vụ, 481 đối tượng. Nhất là, đã tập trung thanh tra, công khai kết luận thanh tra, xử lý nghiêm sai phạm tại nhiều dự án gây thất thoát, thua lỗ lớn, dư luận xã hội quan tâm (vụ việc Mobifone mua 95% cổ phần của AVG; việc cổ phần hóa Cảng Quy Nhơn; các dự án, gói thầu liên quan đến Đinh Ngọc Hệ; các dự án đầu tư lớn thua lỗ, kéo dài...).
          Về các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã đưa ra xét xử sơ thẩm 36 vụ/498 bị cáo; riêng năm 2018 đã kết thúc điều tra 23 vụ/222 bị can (tăng 43,75% số vụ so với năm 2017); đã truy tố 20 vụ/251 bị can (tăng 66,7% số vụ so với năm 2017); đã xét xử sơ thẩm 23 vụ/304 bị cáo (gấp gần 5 lần số vụ so với năm 2017), với các mức án nghiêm khắc, nhưng cũng rất nhân văn, có lý, có tình (có 5 bị cáo (4 người) bị phạt tù chung thân; 09 bị cáo phạt tù trên 20 năm đến 30 năm tù...). Đặc biệt, các cơ quan tố tụng khẩn trương điều tra, truy tố, đưa ra xét xử 10 đại án lớn được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; đồng thời, mở rộng điều tra, khởi tố mới 28 vụ án.
10 đại án lớn gồm: Vụ án “Tham ô tài sản, cố ý làm trái quy định của nhà nước...” xảy ra tại Tổng công ty xây lắp dầu khí Việt Nam; Vụ án “Tham ô tài sản” xảy ra tại Công ty cổ phần Bất động sản điện lực dầu khí Việt Nam (PVP Land); Vụ án xảy ra tại Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) liên quan việc góp vốn 800 tỷ đồng của PVN vào Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Dương (Oceanbank); Vụ án “Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước” xảy ra tại thành phố Đà Nẵng và một số địa phương; Vụ án “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, Lạm quyền trong khi thi hành công vụ, Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” xảy ra tại Công ty cổ phần phát triển, đầu tư Thái Sơn, Bộ Quốc phòng; Vụ án “Tổ chức đánh bạc; Đánh bạc...” xảy ra ở Phú Thọ và một số địa phương; Vụ án “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Ngân hàng Xây dựng (giai đoạn II vụ án Phạm Công Danh và đồng phạm); Vụ án “Cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” liên quan đến hành vi của Hứa Thị Phấn; Vụ Huỳnh Thị Huyền Như và đồng phạm (phần bản án phúc thẩm hủy để điều tra, xét xử lại)”; Vụ án “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản, Cố ý làm trái...”
xảy ra tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á (DAB).
          Những khâu yếu, có nhiều khó khăn, vướng mắc, được khắc phục một bước, nhất là công tác thanh tra có bước tiến mạnh; khâu giám định, định giá tài sản được đẩy mạnh, tăng cường; tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng được nâng lên, năm 2018 đã tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, thu hồi trên 33 ngàn tỷ đồng, tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng đạt trên 30%. Tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” bước đầu được khắc phục; nhiều địa phương, bộ, ngành đã tích cực phát hiện, xử lý tệ “tham nhũng vặt”.
          Công tác phòng, chống tham nhũng trở thành xu thế, phong trào; tham nhũng được ngăn chặn, từng bước được đẩy lùi, để lại dấu ấn tốt đẹp, củng cố thêm niềm tin, góp phần quan trọng xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Các thành viên Ban Chỉ đạo cho rằng, những kết quả đã đạt được, trước hết là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Ban Chỉ đạo quyết tâm rất cao, chỉ đạo quyết liệt, với cách làm khoa học, chặt chẽ, bài bản, phối hợp nhịp nhàng, từng bước chắc chắn, rõ đến đâu xử lý đến đó, công khai, minh bạch; không khoan nhượng với tham nhũng, nhưng cũng rất nhân văn với những người tự giác nhận tội, ăn năn hối lỗi, chủ động khắc phục hậu quả…
          Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo có nhiều nỗ lực, cố gắng, quyết liệt, làm tốt nhiệm vụ tham mưu chỉ đạo, đôn đốc, điều phối hoạt động của các cơ quan chức năng trong phòng chống tham nhũng.
          Sự phối hợp nhịp nhàng, quyết tâm vượt bậc của các cơ quan: Nội chính, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử; sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhất là sự đồng tình, ủng hộ, khích lệ của nhân dân; sự chủ động vào cuộc rất tích cực của báo chí, đã tạo sức mạnh tổng hợp trong phòng chống tham nhũng.
          Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, quyết liệt hơn và hiệu quả hơn
          Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo nhất trí với báo cáo đánh giá và các ý kiến phát biểu tại Phiên họp, đồng thời chỉ rõ: Năm 2019 và những năm tới, sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước đang chuyển sang giai đoạn mới, cao hơn, ngày càng đi vào chiều sâu; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn nhiều khó khăn, phức tạp; nhân dân đòi hỏi công tác phòng chống tham nhũng phải tiếp tục quyết liệt, duy trì được phong trào, xu thế như hiện nay. Vì vậy, không được chủ quan, thỏa mãn, không được bằng lòng với những kết quả đạt được, mà vẫn phải kiên trì, tiếp tục làm với một quyết tâm cao hơn, đẩy mạnh hơn và hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới. Năm 2019 phải đạt kết quả tốt hơn năm 2018, ở các cơ quan, các ngành, lĩnh vực; vừa xây dựng, hoàn thiện thể chế, luật pháp, chính sách, vừa cụ thể hóa để triển khai thực hiện; vừa xem xét, xử lý nghiêm những vụ việc đang làm, vừa kịp thời phát hiện những vụ việc mới, chú ý các khâu như thu hồi tài sản, khắc phục thiệt hại, bảo đảm thi hành án, xử lý nghiêm hành vi tư lợi, chiếm đoạt, chống “tham nhũng vặt”…
          Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung thực hiện trong thời gian tới. Cụ thể là tiếp tục chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện thể chế về quản lý kinh tế-xã hội và phòng chống tham nhũng, phấn đấu đến hết nhiệm kỳ cơ bản hoàn thành một bước về xây dựng cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; chỉ đạo nghiên cứu, đề xuất một số chủ trương, định hướng lớn về công tác phòng chống tham nhũng để phục vụ cho việc xây dựng dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời, chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng chống tham nhũng; nhất là Quy định của Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Luật Phòng chống tham nhũng (sửa đổi), Luật Tố cáo (sửa đổi), Luật Tiếp cận thông tin... Ban Chỉ đạo tiếp tục tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, tập trung vào các lĩnh vực có nhiều dư luận tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, những lĩnh vực còn chậm, khó khăn, vướng mắc; tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ án tham nhũng, kinh tế đã được khởi tố, điều tra; kịp thời phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc mới.
          Năm 2019, Ban Chỉ đạo tập trung chỉ đạo kết thúc điều tra 21 vụ án, truy tố 22 vụ án, xét xử sơ thẩm 27 vụ án, xét xử phúc thẩm 10 vụ án và kết thúc xử lý đối với 43 vụ việc theo Kế hoạch của Ban Chỉ đạo; khắc phục các khâu, lĩnh vực còn yếu, các khó khăn, vướng mắc trong công tác giám định, định giá tài sản, thu hồi tài sản, khắc phục thiệt hại trong các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế; đẩy mạnh hơn nữa phòng chống tham nhũng ở địa phương, cơ sở; ngăn chặn có hiệu quả tình trạng “tham nhũng vặt”; tiếp tục phát huy vai trò của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội, nhân dân, báo chí trong phòng chống tham nhũng...
          Tại Phiên họp này, Ban Chỉ đạo đã cho ý kiến về Báo cáo kết quả chỉ đạo, xử lý các vụ việc, vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo trong năm 2018; Báo cáo kết quả sơ kết 05 năm thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát về thanh tra vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm theo Kế hoạch số 08-KH/TW của Bộ Chính trị; Báo cáo kết quả bước đầu việc thực hiện Kế hoạch kiểm tra công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; việc điều chỉnh phân công nhiệm vụ các thành viên Ban Chỉ đạo; quyết định bổ sung 02 vụ án vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo và kết thúc chỉ đạo xử lý đối với 08 vụ án, 06 vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã kết thúc việc giải quyết theo quy định của pháp luật./.



Chỉ thị của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

          Ngày 10-1-2019, đồng chí TRẦN QUỐC VƯỢNG, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn Chỉ thị. 
          Thời gian qua, để phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, góp ý, phê bình, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong cán bộ, đảng viên, Ðảng, Nhà nước đã ban hành và triển khai thực hiện một số chủ trương, quy định có liên quan đến bảo vệ người tố cáo và đạt được kết quả bước đầu. Tuy nhiên, công tác này vẫn còn những hạn chế, bất cập, như tình trạng để lộ lọt thông tin của người tố cáo; không ít trường hợp người tố cáo không được bảo vệ, bị trả thù, trù dập; các hành vi trả thù, trù dập chưa được phát hiện, xử lý nghiêm. Việc biểu dương, khen thưởng người tố cáo đúng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt việc bảo vệ người tố cáo chưa được quan tâm. Cán bộ, đảng viên và người dân còn chưa an tâm, ngại đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp ý, phê bình cán bộ, đảng viên vi phạm...
Những hạn chế, bất cập nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, trước hết là người đứng đầu ở không ít nơi chưa quan tâm đến công tác này. Quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ người tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa hoàn thiện, thiếu cụ thể. Công tác giải quyết tố cáo trong một số trường hợp còn để kéo dài, có biểu hiện bao che người bị tố cáo. Kiểm tra, thanh tra, điều tra phát hiện, xử lý hành vi trả thù, trù dập người tố cáo và những vi phạm quy định về bảo vệ người tố cáo chưa được coi trọng, trong khi những hành vi trả thù, trù dập người tố cáo ngày càng tinh vi, khó phát hiện.
          Ðể khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác bảo vệ người phát hiện, tố giác, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ sau:
          1. Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, trước hết là người đứng đầu phải nêu cao trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác bảo vệ người tố cáo thuộc phạm vi mình phụ trách; sâu sát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, uốn nắn lệch lạc trong quá trình thực hiện của cấp dưới; chịu trách nhiệm trước cấp trên và bị xử lý trách nhiệm nếu buông lỏng lãnh đạo, quản lý, không làm hết thẩm quyền để xảy ra tình trạng người dân, cán bộ, đảng viên thuộc phạm vi phụ trách bị trả thù, trù dập khi tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cần xác định rõ việc bảo vệ người tố cáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trước hết là của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cơ quan chức năng ở các cấp.
          2. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ người tố cáo.
          Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính Trung ương tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành quy định liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo theo hướng cụ thể, đồng bộ, có chế tài xử lý nghiêm khắc, chú trọng các biện pháp phòng ngừa; làm rõ những biểu hiện của hành vi trả thù, trù dập người tố cáo dưới mọi hình thức để làm cơ sở nhận diện, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý đối với các hành vi này.
          Ban cán sự đảng Chính phủ, ban cán sự đảng các bộ, ngành liên quan chỉ đạo ban hành quy định và hướng dẫn thi hành Luật Tố cáo năm 2018 một cách cụ thể, chi tiết, đồng bộ, phân rõ trách nhiệm cho tổ chức, cá nhân bảo vệ người tố cáo; tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết yêu cầu được bảo vệ của người tố cáo và có chế tài xử lý. Ban hành quy định về bảo vệ người phản ánh, kiến nghị, cung cấp thông tin về những hành vi có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, công chức mà Luật Tố cáo năm 2018 chưa quy định.
          3. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với công tác bảo vệ người tố cáo.
          Ủy ban kiểm tra, thanh tra các cấp đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra để kịp thời phát hiện các cơ quan chức năng, tổ chức, cá nhân không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao trong việc bảo vệ người tố cáo, người phản ánh, kiến nghị, cung cấp thông tin về những biểu hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, các cơ quan, tổ chức...; phát hiện, làm rõ và xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân có hành vi trả thù, trù dập người tố cáo và công khai kết quả xử lý. Ủy ban kiểm tra, thanh tra cấp trên chủ động hướng dẫn ủy ban kiểm tra và cơ quan thanh tra cấp dưới thực hiện tốt công tác này.
          Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp tăng cường hoạt động giám sát việc chấp hành pháp luật về tố cáo và bảo vệ người tố cáo.
          Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia giám sát, phát hiện và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi trả thù, trù dập, chưa thực hiện tốt trách nhiệm bảo vệ người tố cáo; thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tố cáo theo quy định.
          4. Củng cố, kiện toàn, đề cao trách nhiệm, đạo đức công vụ, ý thức kỷ luật cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, các cơ quan, đơn vị có chức năng bảo vệ người tố cáo; tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan này thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
          5. Tăng cường công tác phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các hành vi trả thù, trù dập người tố cáo. Ðẩy mạnh phát hiện, xử lý nghiêm theo quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân có hành vi trả thù, trù dập người tố cáo, bao che người bị tố cáo; cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo nhưng không làm tròn trách nhiệm; người lợi dụng quyền phản ánh, tố giác, tố cáo để bôi nhọ, vu khống, thông tin sai sự thật, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân liên quan, gây mất đoàn kết nội bộ. Ðộng viên, khen thưởng kịp thời người tố cáo đúng, cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức làm tốt công tác bảo vệ người tố cáo.
          Tổ chức phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu quả và khắc phục những yếu kém trong công tác bảo vệ người tố cáo.
          6. Ban Cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan liên quan nghiên cứu, đánh giá các quy định hiện hành về khen thưởng người tố cáo để sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc tham mưu, đề xuất với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Hình thức, nội dung, cách thức tổ chức khen thưởng phải thực sự góp phần tạo động lực, khuyến khích người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, nhưng không để lộ lọt thông tin, làm ảnh hưởng đến sự an toàn của người tố cáo.
          7. Ban Tuyên giáo Trung ương chỉ đạo quán triệt, tuyên truyền, phổ biến các quy định của Ðảng, pháp luật của Nhà nước có liên quan để nâng cao nhận thức, phát huy vai trò, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và người dân trong xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo vệ có hiệu quả người tố cáo; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và các cơ quan chức năng trong việc bảo vệ người tố cáo, tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của toàn xã hội đối với công tác này.
          Các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tích cực phát hiện, đấu tranh với những biểu hiện bao che các hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; những hành vi trả thù, trù dập người tố cáo; ủng hộ, bảo vệ người tố cáo; phê phán những hành vi vu khống, tố cáo sai sự thật.
8. Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp có trách nhiệm phổ biến, quán triệt, cụ thể hóa và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Chỉ thị này.
          Ban Nội chính Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chỉ thị, định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
          Chỉ thị này được phổ biến đến chi bộ.


Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2019


Bản chất và chiêu trò chống phá của những kẻ phản động người Việt ở hải ngoại

         
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, sinh sống tại 103 quốc gia và vùng lãnh thổ có hơn 4,5 triệu, trong đó ở Mỹ là 2,1 triệu người (tính đến năm 2016). Đại bộ phận trong số họ là những người sinh sống lương thiện, tham gia xây dựng cuộc sống mới ở nước sở tại và tích cực đóng góp xây dựng quê hương đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận ôm hận thù cá nhân, nuối tiếc chế độ Việt Nam cộng hòa đã bị sụp đổ vào ngày 30-4-1975, ra sức chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam. Điều đáng nói, đã có những người nhẹ dạ cả tin ở trong nước bị bọn chúng mua chuộc, dụ dỗ và xúi giục tiến hành các hoạt động chống phá...
          Có thể điểm mặt một số tổ chức phản động hung hăng chống phá Nhà nước Việt Nam như: “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tự xưng, do tên cựu trung úy ngụy Sài Gòn Đào Minh Quân cầm đầu. Đây là một tổ chức không được bất kỳ tổ chức, quốc gia nào công nhận, nhưng vẫn huênh hoang là được 26 chính phủ, quốc gia thừa nhận và bảo lãnh. Tổ chức này tụ họp nhau trên một vùng sa mạc ở nước Mỹ, có trụ sở cộng đồng là một cửa hiệu được một chủ hàng chăm sóc sắc đẹp và bán quần áo đứng ra thuê hộ, ở Nam California. Về lực lượng quân sự, mặc dù không có một binh tốt nào thuộc quyền, nhưng chúng cũng tự phong hàm tướng cho nhau. Có thể vạch rõ, đây là một tổ chức phản động hết sức vô văn hóa, bởi lẽ, chửi tục, văng bậy là thứ ngôn ngữ được chúng sử dụng thường xuyên, mỗi khi xuất hiện trên cộng đồng mạng. Tiền thân của chúng là tổ chức "Tân Dân chủ" thành lập năm 1991, trụ sở đặt tại 2807 Anaheim, California 92814 (Mỹ), thực chất đây là một tổ chức khủng bố.
          Đảng Việt Tân là một tổ chức khủng bố khác, do Hoàng Cơ Minh (đã bị tiêu diệt trên đất Lào, trong cuộc hành quân Đông tiến 2) thành lập tháng 9-1982. Tổ chức này, tuy có tên là "đảng Việt Tân” nhưng thực ra chúng hoạt động tại Mỹ như một hội đoàn theo quy chế "unincorporated association” (hội đoàn không đăng ký pháp nhân). Mặc dù chúng đưa ra tuyên ngôn bất bạo động, nhưng luôn thực hiện việc tuyên truyền, mua chuộc, kích động và tiếp tay cho các phần tử phản động nội địa biểu tình gây bạo loạn. Dưới sự chỉ đạo, kích động và tài trợ của Việt Tân, những năm gần đây nhiều cuộc biểu tình, gây bạo loạn đã xảy ra ở miền Nam và Bắc miền Trung. Các tổ chức này đang ra sức phát triển lực lượng, phô trương thanh thế và tiến hành nhiều hoạt động vừa ngấm ngầm, vừa công khai hết sức thâm độc, chống phá điên cuồng công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam. Không ít kẻ nhẹ dạ cả tin ở trong nước bị chúng mua chuộc, lường gạt tiến hành các hoạt động chống phá Nhà nước, khi rơi vào phòng lao lý, ân hận thì đã muộn. Vì vậy, cảnh giác là bài học không lúc nào thừa đối với mỗi người dân.
          Xét trên phương diện tài chính, các tổ chức phản động này đều thực hiện dưới hình thức quyên góp, nhưng thực chất là thực hiện các trò lừa đảo, bắt chẹt để thu tiền của đồng bào ta ở hải ngoại. Chẳng hạn, đảng Việt Tân đã từng dựa vào hệ thống kinh doanh phở Hòa làm cơ quan kinh tài. Để có tiền, chúng kêu gọi đồng bào hải ngoại đến ăn phở và thực hiện các hành vi lừa đảo, lường gạt một cách trắng trợn. Ví dụ, thực chất của chiến dịch Đông tiến 1 là việc Việt Tân đưa một nhóm tay chân về vùng rừng núi biên giới Thái Lan giáp Lào dưới vỏ bọc công nhân liên doanh lâm nghiệp, cho mặc áo quần áo rằn ri, đeo ba lô, tay cầm súng lăn lê, bò toài để quay phim, chụp ảnh rồi đem về Mỹ tuyên truyền rằng đã thành lập được nhiều khu chiến. Trò lừa đảo bịp bợm này sau đó bị lật mặt. Vì thế, nhiều người ở hải ngoại gọi mặt trận do Hoàng Cơ Minh cầm đầu là “mặt trận tái nạm béo”. Nhằm chống đỡ búa rìu dư luận từ bà con hải ngoại, chúng liều lĩnh tiến hành chiến dịch Đông tiến 2, với kết cục, toàn bộ 140 tên đều bị bộ đội và dân quân Lào tiêu diệt hoặc bắt sống...
          Nắm trong tay một lượng tiền nhờ lừa đảo mà có, các tổ chức này tiến hành rất nhiều chiêu trò vừa ngấm ngầm, vừa công khai chống cộng, chống phá Nhà nước Việt Nam. Chiêu trò hàng đầu của chúng là ra sức tuyên truyền, kích động, lôi kéo, cưỡng ép cộng đồng người Việt ở hải ngoại và kích động một số kẻ bất mãn trong nước chống phá Nhà nước Việt Nam một cách điên cuồng. Chúng tuyên truyền xuyên tạc đủ điều, bằng đủ thứ ngôn ngữ hết sức xằng bậy và thô tục. Vì sao bọn chúng điên cuồng chống phá Nhà nước Việt Nam đến thế? Điều này bắt nguồn từ các lý do: Một mặt, hầu hết bọn chúng là những kẻ từng là lính thuộc đội quân đánh thuê, hoặc là thân nhân của đội quân đó, những kẻ từng ôm chân thực dân đế quốc, nay bị thất sủng. Từ địa vị những kẻ "ăn trên ngồi trốc", nay trở thành những kẻ tha phương cầu thực, nên vẫn ôm ấp hận thù một cách điên cuồng và mù quáng. Mặt khác, sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chúng cho rằng, đây là thời cơ ngàn năm có một để thực hiện ảo tưởng gây bạo loạn lật đổ chế độ XHCN và phục hồi thây ma Việt Nam cộng hòa đã bị thối rữa từ lâu. 
          Chúng tiến hành các hoạt động cài cắm lực lượng, lôi kéo, kích động, tài trợ cho những phần tử nhẹ dạ cả tin gây bạo loạn, khủng bố trong nước. Đây là một hoạt động hết sức nguy hiểm, thủ đoạn của chúng là móc nối những phần tử bất mãn, cung cấp tiền, tài liệu tuyên truyền xuyên tạc chế độ, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế. Chúng thường tung tin, thổi phồng một số hiện tượng tiêu cực, yếu kém của cán bộ các cấp. Chúng lợi dụng triệt để mọi sơ hở trong quản lý kinh tế, đất đai, sự cố về môi trường do hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gây ra để kích động, tài trợ tiền cho các hoạt động biểu tình chống phá. Điển hình là các hành động biểu tình quá khích diễn ra ở nhiều nơi và kéo dài sau sự cố môi trường do Công ty Formosa gây ra ở miền Trung. Nguy hiểm hơn, chúng còn tổ chức, tài trợ cho nhóm 15 tên tiến hành các hoạt động đốt kho tạm giữ xe vi phạm luật giao thông ở Đồng Nai, đặt bom xăng ở sân bay Tân Sơn Nhất... đã bị cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam trừng trị nghiêm khắc. 
          Chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc sự thật, nói xấu lãnh tụ, bôi nhọ hình ảnh đất nước và kêu gọi lật đổ chế độ. Lợi dụng sự quản lý thiếu chặt chẽ, thời gian qua, chúng trơ tráo tung ra các video xuyên tạc lịch sử dân tộc, nói xấu lãnh tụ, kích động biểu tình, đòi lật đổ chế độ, với đủ thứ ngôn từ thể hiện sự ngông cuồng và ảo tưởng.
          Nói tóm lại, các tổ chức phản động do những kẻ ngông cuồng và ảo tưởng cầm đầu, được nuôi dưỡng bởi những đồng tiền lừa đảo, bất chính của một bộ phận cộng đồng người Việt ở hải ngoại đang bày ra đủ loại chiêu trò chống phá Nhà nước và cuộc sống yên lành của nhân dân, nhưng chắc chắn sẽ bị toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đánh bại hoàn toàn. Điều quan trọng là chúng ta cần vạch trần bộ mặt thật và những chiêu trò chống phá để nhân dân hiểu rõ, nêu cao tinh thần cảnh giác, không mắc phải các mưu đồ thâm độc, xảo quyệt của những kẻ phản bội lợi ích của dân tộc.
 Chu Tuấn

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2019


Không thể xuyên tạc giá trị cao cả chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng

          Có những sự kiện lịch sử khi thời gian trôi về quá khứ càng xa thì ý nghĩa, giá trị của nó càng lớn lao. Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc (1975-1979) và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng của dân tộc Việt Nam là một trong những sự kiện như vậy.
          Việt Nam-Lào và Campuchia là ba nước nước láng giềng, trên cùng bán đảo Đông Dương có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết cùng chống kẻ thù chung. Đặc biệt, 3 dân tộc đã kề vai sát cánh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập, tự do cho dân tộc. Tuy nhiên, từ những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1970-1975) cho đến năm 1979, tập đoàn Pol Pot đã phản bội nhân dân Campuchia và phá hoại truyền thống đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam-Campuchia. Trong nước, Pol Pot thực hiện chính sách diệt chủng; đồng thời chúng thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam. Thực hiện quyền tự vệ chính đáng, Quân tình nguyện Việt Nam đã bất chấp mọi hy sinh, gian khổ, phối hợp với lực lượng vũ trang (LLVT) Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia mở cuộc tổng tiến công giải phóng thủ đô Phnom Penh (7-1-1979) và toàn bộ đất nước Campuchia (17-1-1979).
          Vừa qua, trong khi hai dân tộc Việt Nam-Campuchia vui mừng, phấn khởi kỷ niệm 40 năm Ngày chiến thắng chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam Việt Nam và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng, thì đây đó trên internet và mạng xã hội vẫn có những tiếng nói lạc lõng xuyên tạc cuộc chiến tranh này. Họ tán phát luận điệu cũ rích: “Cuộc tấn công của quân đội Việt Nam (giải phóng Campuchia) là cuộc chiến tranh xâm lược”; Việt Nam đã “lấn chiếm Campuchia cả trên đất liền và biển, đảo”...
          Vậy đâu là nguyên nhân cuộc chiến tranh này? Bản chất và ý nghĩa cao cả của cuộc phản công bảo vệ chủ quyền quốc gia; giải phóng dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, diệt vong là gì? 
Nguyên nhân của cuộc chiến tranh
          Theo nhiều tài liệu và chứng cứ còn lại, trong 3 năm (từ tháng 4-1975 đến cuối năm 1978), chính quyền Pol Pot đã thực hiện chính sách chính trị, kinh tế, xã hội hoang dã: Hủy bỏ tất cả quyền con người, quyền công dân-từ quyền sống đến các quyền tự do tối thiểu. Để làm “trong sạch dân cư”, chúng đã thực hiện chính sách giết hàng triệu người một cách dã man (đập chết bằng cuốc, xẻng, mổ bụng, moi gan... ). Gần 3 triệu người Campuchia đã bị giết chỉ trong gần 3 năm. Chúng xóa bỏ mọi cơ sở xã hội của một nền văn minh (như xóa bỏ thành thị, xóa bỏ sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, xóa bỏ quan hệ hàng hóa-tiền tệ) đẩy cả dân tộc Campuchia vào thảm họa diệt vong, đồng thời xóa sổ cả nền văn hóa, văn minh của một dân tộc có bề dày hàng nghìn năm.

          Với Việt Nam, Pol Pot ra sức vu khống: “Việt Nam xâm lược, cướp đất, cướp đảo… của Campuchia”. Chúng kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, giết nhiều kiều bào Việt Nam; đòi hoạch định lại biên giới Việt Nam-Campuchia. Pol Pot tuyên bố Việt Nam là “kẻ thù truyền kiếp”, “kẻ thù số 1”, là “tai họa lớn nhất” của dân tộc Campuchia… Ngay sau khi Việt Nam hoàn toàn giải phóng, chúng tấn công đảo Phú Quốc (ngày 3-5-1975); tấn công đảo Thổ Chu (ngày 10-5-1975). Tại đây, chúng bắt và giết hơn 500 dân thường. Trên đất liền, chúng khiêu khích, tập kích vào bộ đội biên phòng, tự tiện di dời cột mốc biên giới ở các tỉnh:Tây Ninh, Kon Tum, Đắc Lắc…
          Cuộc chiến tranh này đã được chính quyền Pol Pot chuẩn bị bài bản với tham vọng có thể giành được chiến thắng. Chúng phát triển quân chủ lực từ 7 sư đoàn khi mới giải phóng lên 12 sư đoàn quân chính quy với đầy đủ thành phần, binh chủng. Cuối tháng 4-1977, Pol Pot điều động 5 sư đoàn và hàng trăm khẩu pháo, xe tăng áp sát biên giới Việt Nam-thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn vào lãnh thổ vùng biên giới Tây Nam của Việt Nam.
Cuộc phản công tự vệ của quân và dân ta
          Không thể phủ nhận rằng, trong thời kỳ đầu của các cuộc tập kích, khiêu khích ở biên giới Tây Nam, chúng ta đã mất cảnh giác vì tin vào chính quyền Campuchia do Pol Pot-Ieng Sari cầm đầu. Việt Nam không nghĩ rằng một quốc gia láng giềng từng được quân dân Việt Nam giúp đỡ, hy sinh cả xương máu để họ có được độc lập dân tộc lại quay súng, giết hại nhân dân, giết hại đồng bào mình. Thế nhưng, khi bọn chúng đã lộ mặt là kẻ phản bội-thật sự mở cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì quân dân Việt Nam bằng quyền tự vệ chính đáng của mình đã giáng trả đích đáng.
          Đặc biệt, ngay sau khi Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia chính thức được thành lập (ngày 3-12-1978), đáp ứng lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia, từ ngày 23-12-1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng LLVT của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia mở cuộc tổng phản công-tiến công, lần lượt phá vỡ toàn bộ hệ thống phòng thủ của quân Pol Pot. Ngày 7-1-1979, Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc cứu nước Campuchia đã giải phóng Phnom Penh, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của tập đoàn phản động Pol Pot và chế độ diệt chủng ở Campuchia.
          Ngày nay, nhìn lại cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc, chúng ta rút ra nhiều ý nghĩa cao cả:
          Trước hết, bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ luôn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của quân dân ta. Trong bất cứ tình huống nào, quan hệ quốc tế nào, chúng ta cũng không được thiếu cảnh giác trong sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay, giải thích sự kiện quân dân ta không giáng trả ngay bè lũ Pol Pot, nhiều đồng bào, cựu chiến binh ta nói rằng: Khi đó chúng ta nghĩ rằng không có chuyện quân đội Campuchia lại tấn công Việt Nam.
Mặc dù tình hình quốc tế và khu vực đã có những chuyển biến khác với thời kỳ "Chiến tranh lạnh" (1945-1991), tuy nhiên Việt Nam và Biển Đông là một trong những vị trí địa chính trị quan trọng trong khu vực. Cuộc cạnh tranh giữa các nước lớn ở khu vực này có thể dùng các phương thức khác nhau để giành giật quan hệ quốc tế… Điều này có thể dẫn đến những xung đột giữa các nước nhỏ trong khu vực. Đây là một thực tế đã diễn ra trong lịch sử mà Việt Nam không thể không quan tâm.
          Thứ hai, các sự kiện diễn ra trong cuộc chiến tranh này đã hoàn toàn bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trong và ngoài nước về cuộc chiến tranh, nhất là luận điệu “Việt Nam xâm lược, xâm lấn Campuchia”. Thực tế cho thấy, cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam là một cuộc chiến tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc ta. Đồng thời cũng là cuộc chiến đấu bảo vệ sinh mạng-quyền con người của cả hai dân tộc Campuchia và Việt Nam; là cuộc chiến tranh chính nghĩa-cuộc chiến tranh tự vệ chính đáng, giáng trả kẻ thù xâm lược, ngoài ra không có mục tiêu nào khác.
          Về nguyên nhân quân đội Việt Nam không rút về nước ngay trong năm 1979, Thủ tướng Hun Sen kể rằng: “Sau chiến thắng ngày 7-1-1979, nếu như theo kế hoạch ban đầu, bộ đội Việt Nam sẽ rút quân khỏi Campuchia ngay trong năm 1979. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Campuchia chưa đủ sức chống lại Pol Pot và cần thời gian để củng cố lực lượng cũng như khôi phục nền kinh tế của mình. Nếu Việt Nam rút quân và Pol Pot quay trở lại được thì sẽ càng nhiều người Campuchia bị giết”, “Chính phủ Việt Nam không muốn để quân ở lại.
Phía chúng tôi đã yêu cầu họ như thế...”
          Thứ ba, về quan hệ Việt Nam-Campuchia, cuộc chiến tranh bảo vệ chủ quyền của quân dân ta đã đồng thời giáng đòn quyết định đánh sập chế độ diệt chủng ở Campuchia, ngoài ra không có mục tiêu nào khác. Chiến thắng của quân dân ta cũng có thể nói là chiến thắng của tình đoàn kết hữu nghị truyền thống Việt Nam-Campuchia, khôi phục lại tình đoàn kết hữu nghị vốn có giữa hai Đảng và nhân dân hai nước. Thủ tướng Hun Sen từng kể rằng: Trước tình hình đó (nạn diệt chủng), ông đã quyết định chạy sang Việt Nam đề nghị giúp đỡ tổ chức phong trào kháng chiến giải phóng đất nước. Khi ấy, ông được biết thông tin một số người dân Campuchia cũng đã rời quê hương sang Việt Nam lánh nạn.
           Ông tin Việt Nam, vì đây là nước láng giềng đã từng đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh với Campuchia trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung giành độc lập. Trong chuyến thăm Việt Nam gần đây, ông nói: “Nếu không có sự giúp đỡ của Việt Nam thì Campuchia không có ngày nay”.
          Thủ tướng Hun Sen còn khẳng định: “Chúng ta có thể hỏi rằng trên thế giới này, có đất nước nào đã giúp nhân dân Campuchia, đặc biệt là giải phóng khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot và ngăn cản sự quay lại của chúng? Câu trả lời chính là nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dân Campuchia có niềm tin, chỉ có tiên, có Phật mới cứu giúp được những phận người khi gặp khó khăn khốn cùng. Đúng vào lúc người dân Campuchia sắp chết, chỉ còn biết chắp tay khẩn cầu tiên, Phật tới cứu thì Bộ đội tình nguyện Việt Nam xuất hiện. Bộ đội Việt Nam chính là đội quân nhà Phật”.
          Chế độ diệt chủng Pol Pot không chỉ là một thảm họa với dân tộc Campuchia mà còn là một nguy cơ lớn đối với dân tộc Việt Nam. Bởi vậy, giúp nhân dân Campuchia giải phóng "cũng là mình tự giúp mình”. Với mọi kẻ thù xâm lược, cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ là một thông điệp đanh thép của nhân dân Việt Nam. Bất cứ kẻ thù nào, nếu có dã tâm xâm lược Việt Nam, chúng sẽ bị giáng trả với toàn bộ sức mạnh tinh thần, trí tuệ và vật chất.
           Chu Tuấn 

Thứ Bảy, 5 tháng 1, 2019


Đập tan những âm mưu, ảo vọng của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”
          Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an cùng Công an các đơn vị, địa phương, cơ quan tố tụng đã nhanh chóng điều tra, bắt giữ và đưa ra xét xử những đối tượng khủng bố thuộc tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Từ 1-2018, Bộ Công an đã xác định tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” là tổ chức khủng bố. Cầm đầu là Đào Minh Quân (nguyên Trung úy ngụy), 56 tuổi, quê quán tại Kỳ Hương, Tam Kỳ, Quảng Nam. Hiện Đào Minh Quân đang sống tại bang California, Mỹ
          Trong tổ chức, Đào Minh Quân tự xưng là “thủ tướng”. Tháng 8-2017, cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an ra quyết định khởi tố bị can, truy nã Đào Minh Quân về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”. Theo Điều 84 Bộ luật Hình sự 1999, đồng phạm với Đào Minh Quân còn có Kelly Triệu Thanh Hoa, 50 tuổi, quốc tịch Mỹ, tự xưng là “chuẩn tướng”, chức vụ “phụ trách thanh niên”; Lâm Ái Huệ, 50 tuổi, quốc tịch Canada, tự xưng “chuẩn tướng”, chức vụ “thứ trưởng bộ tài chính”; Phạm Thị Anh Đào (tức Phạm Lisa), 39 tuổi, quốc tịch Mỹ, có nhiệm vụ kích động khủng bố, phá hoại manh động chống phá Việt Nam.  Ngoài ra còn có các đối tượng đều tự phong làm tướng, bộ trưởng như Lý Hồng Thái, sinh năm 1952, cấp bậc tự xưng “trung tướng”, chức vụ “tổng cục trưởng tổng cục võ học”; Nguyễn Đức Thắng, sinh năm 1930, cấp bậc tự xưng “chuẩn tướng”, chức vụ “chánh văn phòng thủ tướng”; Quách Thế Hùng, 70 tuổi, tự xưng là “đại tướng” với vai trò “tổng cục trưởng tổng cục quân huấn”.
          Các đối tượng trên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” đều đang bị cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an truy nã với tội danh “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”.
          Thủ đoạn và cái giá phải trả
          Tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tiền thân là tổ chức “Tân Dân Chủ”, trụ sở đặt tại 2807 Anaheim, CA 92814, Mỹ; có số điện thoại và một số trang web khác nhau được thành lập vào năm 1991, tại Mỹ. 
Ngày 6-6-2009, Đào Minh Quân công bố bản “Hiến ước lâm thời” thể hiện cương lĩnh và điều lệ hoạt động của tổ chức với mục đích nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam bằng bạo động vũ trang với khẩu hiệu hành động “Lấy lại đất tổ, không làm khổ dân”, cơ cấu tổ chức gồm: cấp Trung ương (ở bên ngoài lãnh thổ Việt Nam) gồm 8 “Hội đồng”, “3 Viện”, 2 “Văn phòng”, 4 “Sở”, 16 “Bộ” và các tổ chức ngoại vi như “Hội phụ nữ tân dân chủ”, “Bộ Tư lệnh chiến lược toàn quốc”. 
Mạng lưới cơ sở (trong lãnh thổ Việt Nam, do chúng tự rêu rao) được chia thành 7 “quân khu”, mỗi “quân khu” có “Bộ tư lệnh quân khu” do các “tư lệnh” đứng đầu và 4 ban trực thuộc trên phạm vi 72 “tỉnh”, 12 “thành phố”, 4 “thị xã” (đây là những đơn vị hành chính do chúng tự phân chia, quy định); trong đó ở mỗi đơn vị hành chính có “Bộ chỉ huy chí nguyện đoàn” do “Chỉ huy trưởng đứng đầu”. 
          Sau khi thành lập, Đào Minh Quân và số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” đến các trại tỵ nạn người Việt ở Hồng Kông và các nước Đông Nam Á tuyển mộ lực lượng, đưa về Việt Nam theo đường hồi hương để tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại. 
          Sau khi bị cơ quan An ninh Việt Nam đấu tranh, phá rã, từ cuối năm 2015 đến nay, Đào Minh Quân cùng các đối tượng cốt cán của tổ chức đã tiến hành các hoạt động khôi phục, củng cố, kiện toàn lại tổ chức và thực hiện nhiều kế hoạch chống phá như: tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; lôi kéo móc nối, phát triển lực lượng vào trong nước và đưa người từ nước ngoài xâm nhập về Việt Nam chỉ đạo thực hiện các hoạt động khủng bố, phá hoại, chống Nhà nước Việt Nam.
          Thủ đoạn của chúng là triệt để lợi dụng mạng Internet, các ứng dụng, tiện ích của mạng xã hội, chúng tạo lập, duy trì các trang web, blog, địa chỉ email như “chinhphuquocgia.com”, laylaidatto@gmail.com”, “Cuutuchinhtri.org”… để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia tổ chức; liên lạc, chỉ đạo thực hiện các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam dưới nhiều hình thức như hoạt động khủng bố, phá hoại tư tưởng, rải truyền đơn kích động biểu tình, phá hoại nhân dịp các ngày lễ tết của đất nước. 
          Đối tượng mà “chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” hướng tới không chỉ tại Việt Nam mà còn ở cộng đồng người Việt tại một số quốc gia khác.
Năm 2015, số cầm đầu tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” chỉ đạo cơ sở móc nối, lôi kéo phát triển lực lượng, thành lập các “chí nguyện đoàn” trong nước; khảo sát tìm địa điểm lập căn cứ, mua vũ khí nhằm thực hiện các hoạt động manh động, khủng bố… nhưng đã bị lực lượng Công an Việt Nam kịp thời phát hiện ngăn chặn, bắt, xử lý 4 đối tượng (Hà Ngọc Hân, Mai Xuân Nghĩa, Lương Tuấn Vinh, Nguyễn Văn Hội). Riêng Mai Xuân Nghĩa lẩn trốn sang Lào, sau đó xâm nhập về nước cùng với Đào Quang Thực lên kế hoạch mua vũ khí tấn công khủng bố, nhưng bị lực lượng Công an Việt Nam phát hiện, bắt giữ.
          Từ giữa năm 2016, số đối tượng cốt cán của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” như: Kim Collin (em gái Đào Minh Quân, phụ trách phong trào Việt Nam tân dân chủ); Kelly Triệu (tức Triệu Thanh Hoa, 50 tuổi, quốc tịch Mỹ), tự xưng “chuẩn tướng” – “giám đốc nha nhân viên – bộ quốc phòng”; Trần Trưng Nguyệt Ánh, tự xưng “đại tá” – “giám đốc cục an ninh quân đội”; Nguyễn Thúy Liễu tự xưng “nữ sĩ” – “đại biểu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” tại Pháp; Quách Thế Hùng, “bác sĩ” – “phụ trách bộ tư lệnh chiến lược toàn quốc”; đối tượng “Lisa Phạm” (tức Phạm Anh Đào, 39 tuổi, quốc tịch Mỹ, chỗ ở TP Denmark, bang Nam California Mỹ) cùng một số đối tượng đã tuyên truyền, móc nối, lôi kéo, kết nạp các đối tượng có tư tưởng, thái độ bất mãn trong và ngoài nước tham gia và tổ chức với hình thức viết đơn xin gia nhập tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và thực hiện các hành động xúc phạm hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh rồi chụp hình lại, gửi kèm ảnh chụp giấy chứng minh nhân dân cho tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” để làm thủ tục gia nhập.
          Sau khi gia nhập, các đối tượng này có nhiệm vụ tiếp tục tuyên truyền, lôi kéo, phát triển thêm người vào tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”. Đồng thời kêu gọi nhiều người viết phiếu trưng cầu dân ý với nội dung đồng ý bầu cho Đào Minh Quân làm “tổng thống đệ tam Việt Nam cộng hòa”, thực hiện các hoạt động chống phá theo chỉ đạo của tổ chức như: biểu tình, trương biểu ngữ, rải truyền đơn để tuyên truyền cho tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” và Đào Minh Quân.
          Năm 2017, số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” bên ngoài ráo riết phát triển lực lượng, thành lập các nhóm “Phượng Hoàng”, “Mãng Xà”, “Biệt động quân”, “Đại Việt” nhằm khủng bố, phá hoại, ám sát cán bộ; chúng đã cử 2 thành viên là Phan Angel (Phan Thị Đào, 52 tuổi, quốc tịch Mỹ) và Nguyen James Han (Nguyễn Thanh Hân, 51 tuổi, quốc tịch Mỹ) về nước cung cấp tài chính và trực tiếp chỉ đạo hoạt động.
          Theo sự chỉ đạo của số cầm đầu “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, các đối tượng trong nước đã thực hiện ném bom xăng gây cháy 320 chiếc xe tại kho tạm giữ xe vi phạm giao thông của Công an TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai vào ngày 8-4-2017; đặt bom xăng tại nhà xe và cổng ga đến quốc tế sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, ngày 22-4-2017 và tiến hành khảo sát, lên kế hoạch gây cháy, nổ trụ sở các cơ quan công quyền và một số nhà máy, xí nghiệp nhưng đã bị lực lượng Công an Việt Nam ngăn chặn.
          Tháng 4-2017, cơ quan Công an Việt Nam đã khởi tố, bắt tạm giam 15 đối tượng là thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” (Điều 84 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999); tháng 12-2017, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã đưa vụ án trên ra xét xử và tuyên phạt các đối tượng từ 4 đến 16 năm tù.
               Chu Tuấn                                           

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) gắn với học tập và làm theo Bác trong Đảng bộ Quân đội hiện nay           Thời g...