Tuyên ngôn thế giới về
quyền con người - Giá trị lịch sử và đương đại
Cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai do chủ nghĩa phát xít gây
ra đã làm chết hàng trăm triệu người trên thế giới. Riêng ở Việt Nam có tới hơn
2 triệu người chết. Những tổn thất lớn lao mà cuộc chiến tranh gây ra đã thức
tỉnh nhân loại về một nhiệm vụ chung, đặc biệt của các dân tộc là bảo vệ hòa
bình, tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và quyền con người (QCN).
Đây
được xem là nhu cầu cấp bách của cộng đồng quốc tế. Ngay sau khi Liên hợp quốc
(LHQ) được thành lập (ngày 24-10-1945) công việc soạn thảo một văn kiện về QCN
đã được Đại hội đồng (ĐHĐ) LHQ triển khai, giao Ủy ban Nhân quyền trực thuộc
LHQ thực hiện. Sau 2 năm (1947-1948) làm việc khẩn trương của các chuyên gia
hàng đầu LHQ, văn kiện đã hoàn thành. Đó là bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền
con người” (gọi tắt là tuyên ngôn). Ngày 10-12-1948, bản tuyên ngôn được ĐHĐ
LHQ thông qua (Nghị quyết 217A - III).
Tuyên ngôn gồm lời nói đầu và 30 điều. Trong “Lời nói đầu”,
tuyên ngôn dẫn ra những tư tưởng tiến bộ của nhân loại và những vấn đề cấp bách
của cộng đồng quốc tế phải ứng phó, gồm: (1) “Tự do, công lý và hòa bình”. Tư
tưởng này được xem là nền tảng của sự tồn tại nhân loại; (2) Nhu cầu về “quyền
tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tôn giáo và “thoát khỏi” sự khốn cùng”, được
xem là nguyện vọng cao cả nhất của con người; (3) “Quyền con người phải
được một chế độ pháp trị bảo đảm”; (4) Dựa vào Hiến chương LHQ, tuyên
ngôn“tái xác nhận” và cam kết tôn trọng, thực thi trên toàn cầu những quyền và
tự do căn bản ghi trong tuyên ngôn. Bản tuyên ngôn này
“được xem như một tiêu chuẩn và mục tiêu chung cho tất cả các quốc gia, dân tộc
hướng tới”.
Trong phần nội dung, 30 điều của tuyên ngôn quy
định khá đầy đủ về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế xã hội và văn hóa.
Về các quyền dân sự, chính trị, tuyên ngôn quy
định: Không ai “Bị phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn
giáo, chính kiến…” (Điều 2); mọi người đều có “Quyền được sống, tự do, và an
toàn thân thể (Điều 3); không ai bị “Tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những
đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm” (Điều 5); “Ai cũng có quyền
được công nhận là thể nhân trước pháp luật ở bất cứ tại đâu” (Điều 6); “Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 7); Mọi người đều có quyền được
hưởng nguyên tắc “suy đoán là vô tội” (Điều 11); “Không ai có thể bị xâm phạm
một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín”… (Điều 12); “Ai cũng có
quyền có quốc tịch” (Điều 15); “Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và
tôn giáo”; ai cũng có quyền tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức… không
kể biên giới quốc gia” (Điều 18); “Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội
một cách hòa bình” (Điều 20); “Ai cũng có quyền tham gia chính quyền…” (Điều
21)…
Về các quyền kinh tế-xã hội và văn hóa, tuyên
ngôn quy định: “Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ có quyền kết hôn và
lập gia đình” (Điều 16); “Ai cũng có quyền sở hữu, hoặc riêng tư hoặc hùn hiệp
với người khác; không ai có thể bị tước đoạt tài sản một cách độc đoán” (Điều
17); “Ai cũng có quyền được hưởng an sinh xã hội” (Điều 22); “Ai cũng có quyền
được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm
việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp” (Điều 23); “Ai
cũng có quyền nghỉ ngơi và giải trí, được hưởng sự hạn định hợp lý số giờ làm
việc và những ngày nghỉ định kỳ có trả lương” (Điều 24); “Ai cũng có quyền được
hưởng một mức sống khả quan về phương diện sức khỏe và an lạc cho bản thân và
gia đình bao gồm thức ăn, quần áo, nhà ở, y tế và những dịch vụ cần thiết;… Sản
phụ, trẻ em được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt” (Điều 25); “Ai cũng có quyền
được hưởng giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí ít nhất ở cấp sơ đẳng; giáo
dục sơ đẳng có tính cách cưỡng bách… Giáo dục phải nhằm phát huy đầy đủ nhân
cách, tăng cường sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do căn bản; phải đề
cao sự thông cảm, khoan dung và hữu nghị giữa các quốc gia…” (Điều 26); “Ai
cũng có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, thưởng ngoạn
nghệ thuật, được hưởng các tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy”
(Điều 27).
Về nghĩa vụ của mỗi người, tuyên ngôn quy định:
“Ai cũng có nghĩa vụ đối với cộng đồng …; Trong khi thực hiện những quyền tự do
của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp quy định vì quyền
tự do của người khác và những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng…”
(Điều 29).
Cho đến nay, sau Hiến
chương LHQ, tuyên ngôn được xem là văn kiện chính trị đặc biệt, được
tất cả quốc gia, dân tộc trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, hệ tư
tưởng, trình độ phát triển, bản sắc văn hóa thừa nhận và được xem là giá trị
chung của nhân loại. Theo đó, ngày 10-12 hằng năm được tôn vinh là Ngày Nhân
quyền thế giới. Những tư tưởng chính trị và những quy định về các quyền cơ bản
của tuyên ngôn được xem là mục tiêu vươn tới của tất cả các quốc gia,
dân tộc.
Ý nghĩa đương đại-lớn lao của tuyên ngôn là ở chỗ: (1)
Tuyên ngôn là cơ sở tư tưởng-chính trị-pháp lý hình thành cơ chế QCN của LHQ
bảo vệ QCN. Đó là cơ sở cho sự ra đời của Ủy ban Nhân quyền (1948-2006), tiếp
theo là Hội đồng Nhân quyền (từ năm 2006 đến nay). Trong thời kỳ đầu, Ủy ban
Nhân quyền nằm trong Hội đồng Kinh tế-xã hội. Nhận thấy tầm quan trọng to lớn
của QCN, năm 2006, ĐHĐ LHQ quyết định nâng cao vai trò của tổ chức này lên
thành Hội đồng Nhân quyền-cơ quan này trực thuộc ĐHĐ; (2) Tuyên ngôn là cơ sở
chính trị-pháp lý để LHQ xây dựng và ban hành các công ước quốc tế về QCN; (3)
Tuyên ngôn là cơ sở tư tưởng hình thành cơ chế về QCN ở các châu lục.
Ở châu Âu, “Công ước bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do
căn bản” được soạn thảo từ năm 1950, có hiệu lực từ ngày 3-9-1953. Các
thành viên của Liên minh châu Âu đều là thành viên công ước. Dựa trên công ước
này, Tòa án Nhân quyền châu Âu ra đời. Tòa án có quyền nhận đơn và
đưa ra xét xử bất cứ ai trong các quốc gia châu Âu có đơn tố cáo mình bị xâm
phạm về QCN. Phán quyết của tòa án buộc các chính phủ trong liên minh phải có
nghĩa vụ thi hành.
Ở châu Mỹ, “Công ước châu Mỹ về nhân quyền” (còn gọi
là Hiệp ước San José) là văn kiện về nhân quyền chung cho các quốc
gia ở châu lục này. Công ước này được các nước châu Mỹ chấp thuận
trong cuộc họp ở San José (Costa Rica ngày 22-11-1969). Văn kiện
này tái khẳng định tuyên ngôn và đẩy mạnh việc bảo vệ QCN ở châu lục này.
Ở châu Phi, “Hiến chương châu Phi về QCN và quyền các dân
tộc” được thông qua vào ngày 27-6-1981 (có hiệu lực ngày 21-10-1981). Đây là
văn kiện đặt nền tảng trong việc bảo vệ QCN ở châu Phi. Văn kiện này tái khẳng
định tuyên ngôn và thúc đẩy việc bảo vệ QCN, phù hợp với tính đặc thù về lịch
sử, văn hóa của châu Phi.
Cho đến nay, chưa có tổ chức nhân quyền châu Á, tuy nhiên
thập niên gần đây đã có tổ chức nhân quyền ASEAN. “Ủy ban liên chính phủ ASEAN
về nhân quyền” (AICHR) được thành lập vào ngày 1-4-2010 tại Jakarta
(Indonesia). Ủy ban này quyền lực còn hạn chế-AICHR chỉ là cơ quan tư vấn liên
chính phủ của hiệp hội. Mục đích của cơ quan này, bao gồm: Thúc đẩy và bảo vệ
các quyền và tự do cơ bản của nhân dân các nước ASEAN;…góp phần hiện thực hóa
các mục tiêu của ASEAN…; thúc đẩy nhân quyền trên cơ sở bối cảnh khu vực, ghi
nhớ tính đặc thù của từng nước và của khu vực, tôn trọng sự khác biệt về lịch
sử, văn hóa và tôn giáo, có tính đến sự cân bằng giữa quyền lợi và trách
nhiệm;…
Trở lại tuyên ngôn,
theo quan niệm chung - tuyên ngôn là văn kiện chính trị-tư tưởng,
không có tính ràng buộc về mặt pháp lý. Cho nên, sau tuyên ngôn, LHQ đã
xây dựng và thông qua hệ thống các công ước quốc tế về QCN (CU). Khác với tuyên
ngôn, các CU là văn kiện có tính ràng buộc về pháp lý.
Cho đến nay LHQ đã ban hành hai công ước bảo vệ các quyền
cơ bản của con người, gồm: “CU về các quyền dân sự và chính trị” năm 1966 (Việt
Nam gia nhập ngày 24-9-1982); “CU về các quyền kinh tế-xã hội và văn hóa” năm
1966 (Việt Nam gia nhập ngày 24-9-1982). Trước đó là “Công ước về xóa bỏ mọi
hình thức phân biệt chủng tộc” năm 1969 (Việt Nam gia nhập ngày
9-6-1982).
LHQ đặc biệt quan tâm đến
xây dựng các CU bảo vệ nhóm xã hội dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em, người
khuyết tật), như: “CU xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” năm
1979 (Việt Nam ký kết ngày 29-7-1980, phê chuẩn ngày 17-2-1982); “Công ước về
Quyền trẻ em” năm 1989 (Việt Nam ký kết ngày 26-1-1990, phê chuẩn ngày
28-2-1990; sau đó Việt Nam đã phê chuẩn hai nghị định thư bổ sung về trẻ em
trong xung đột vũ trang, ký kết ngày 8-9-2000 và chống sử dụng trẻ em trong các
hoạt động mại dâm và tranh ảnh khiêu dâm); “Công ước về quyền của người khuyết
tật” năm 2006 (Việt Nam ký ngày 22-11-2007 và phê chuẩn ngày 5-2-2015); “Công
ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo
hoặc hạ nhục con người” (viết tắc là CAT), Việt Nam ký ngày 7-11-2013, phê
chuẩn ngày 5-2-2015.
Theo quy định chung của các quốc gia, điều kiện để CU được
thực thi là: (1) Quốc gia đó chính thức gia nhập hoặc ký kết (Chính phủ), phê
chuẩn (Quốc hội) công ước. (2) Công ước được nội luật hóa trong hiến pháp và hệ
thống pháp luật quốc gia hoặc cơ quan lập pháp xác định công ước được thực hiện
trực tiếp ở quốc gia đó (không cần “nội luật hóa…” trong hệ thống pháp luật quốc
gia). Nhà nước Việt Nam lựa chọn phương thức “nội luật hóa” công ước. Cho đến
nay, Nhà nước Việt Nam đã nội luật hóa tất cả công ước mà mình tham gia. Bởi
vậy, có thể nói các công ước quốc tế về QCN mà Việt Nam tham gia đến nay được
bảo đảm vững chắc bằng pháp luật.
Chương II, Hiến pháp 2013-“QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân” có giá trị đặc biệt. Các QCN trong Chương II không phải chủ yếu
là nội luật hóa các công ước về QCN mà Việt Nam đã tham gia, mà chủ yếu là kết
thừa các Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992), nhất là Hiến pháp 1946.
Có thể nói những quy định trong Chương II nói lên rằng, tôn trọng và bảo đảm
QCN thuộc bản chất, xuyên suốt lịch sử Việt Nam đương đại (từ năm 1945 đến
nay).
Trở lại tuyên ngôn-nói về
QCN, sau tuyên ngôn là “Tuyên bố Viên và Chương trình hành động” (gọi tắt là
tuyên bố). Đây là văn kiện Hội nghị thế giới về quyền con người (họp tại Viên
(Áo) ngày 25-6-1993(2). Tuyên bố tái khẳng định tầm quan trọng của tuyên ngôn,
đồng thời định hướng việc giải quyết nhiều vấn đề quan trọng-cập nhật về QCN,
như quyền dân tộc tự quyết; quyền của người di cư; bạo lực dựa trên giới; quyền
phát triển; tăng cường giáo dục về QCN và quyền được sống trong môi trường
trong sạch (không bị ô nhiễm…). Đặc biệt, hội nghị đưa ra quan điểm xử lý mối
quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù của QCN.
Trong việc bảo đảm QCN ở các quốc gia, cũng như đánh giá
của các nước đối với việc bảo đảm QCN thường có hai khuynh hướng: (1) Áp đặt
quan điểm của mình cho một quốc gia nào đó (thường là của một số quốc gia
phương Tây, nhất là Hoa Kỳ); (2) Đưa ra quá nhiều quy định hạn chế quyền viện
cớ quốc gia mình có những đặc điểm riêng… Để xử lý sự khác biệt này, tuyên bố
viết: “Tất cả các QCN đều mang tính phổ biến, không thể chia cắt, phụ thuộc và
liên quan đến nhau. ... Trong khi phải luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tính đặc
thù về dân tộc, khu vực cũng như bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và
tôn giáo; các quốc gia, không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa,
có nghĩa vụ thúc đẩy và bảo vệ tất cả các quyền và tự do cơ bản của con người”
(Điều 5). Gắn liền với quan điểm trên, tuyên bố tái khẳng định quyền dân tộc tự
quyết. Tuyên bố viết “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Với quyền đó, các dân
tộc tự do quyết định thể chế chính trị cũng như tự do theo đuổi con đường phát
triển kinh tế-xã hội và văn hóa của mình… Hội nghị thế giới về QCN coi việc
khước từ quyền tự quyết dân tộc là sự vi phạm quyền con người” (Điều 2).
Xét về phương diện chính trị, tuyên bố Viên đã bổ sung cho
tuyên ngôn về quyền của các dân tộc thuộc địa. Đây là cơ sở, điều kiện bảo đảm
QCN đối với các dân tộc thuộc địa, lệ thuộc (vào thời kỳ đó). Ý nghĩa quan
trọng của quan điểm này là các nhà nước có toàn quyền đưa ra các quy định về
QCN phù hợp với truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa và thể chế chính trị của
mình, bác bỏ các luận điệu lợi dụng QCN để can thiệp vào công việc của các quốc
gia.
Có thể nói tuyên ngôn và các CU đã được cộng đồng quốc tế
tôn vinh, ký kết và thực hiện. Tuy nhiên cho đến nay vẫn còn sự khác biệt trọng
nhận thức của một số quốc gia về QCN. Đến nay, Hoa Kỳ đã ký kết, nhưng (Nghị
viện) chưa phê chuẩn một số CU, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền kinh
tế-xã hội và văn hóa, Công ước về quyền trẻ em. Có ý kiến cho rằng, với Hoa Kỳ
sở dĩ các CU được tổng thống ủng hộ nhưng chưa được Nghị viện thông qua là do
chế độ đa đảng đối lập đã dẫn đến tình trạng này.
Trong những năm gần đây, nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc tôn
trọng và bảo đảm QCN ở tất cả các quốc gia, Hội đồng Nhân quyền đã quyết định
thực hiện “Cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR)”. Mục tiêu của UPR là cải
thiện tình hình nhân quyền ở mỗi quốc gia. Để đạt được mục tiêu này, UPR sẽ
đánh giá báo cáo hàng năm của các quốc gia về QCN; chia sẻ kinh nghiệm giữa các
quốc gia và các bên liên quan khác. Đồng thời qua đó Hội đồng Nhân quyền có thể
hỗ trợ kỹ thuật cho các quốc gia nhằm tăng cường năng lực để đối phó hiệu quả
với những thách thức về nhân quyền trong bối cảnh mới.
QCN là giá trị chung của các quốc gia, dân tộc. Giá trị đó
đã sớm được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đối với dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh
đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, QCN được xem là một mục
tiêu của cách mạng Việt Nam. Nhiều tư tưởng tiến bộ về QCN, đặc biệt là
trong Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và công bố
ngày 2-9-1945 đã đi trước tuyên ngôn đến hơn 3 năm. Dân tộc Việt Nam có quyền
tự hào về điều này, đồng thời chúng ta cũng có nghĩa vụ nặng nề trong việc giữ
gìn niềm tự hào đó cho các thế hệ tương lai.
Chu Tuấn – theo Báo QĐNDVN




2 nhận xét:
Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người, con người luôn là sự quan tâm lớn nhất của Việt Nam
Nếu ai còn mơ hồ và đánh giá Việt Nam không coi trọng quyền con người thì hãy nhìn vào những gì Đảng và Nhà nước Việt Nam đã làm cho nhân dân Việt Nam và điều này được thế giới đánh giá rất cao
Đăng nhận xét